Monthly Archives: April 2013

MIỀN THƯỢNG TRONG MỐI QUAN HỆ GIAO LƯU KINH TẾ VỚI ĐÀNG TRONG

 

I. Miền Thượng trong chiến lược phát triển đất nước của chính quyền họ Nguyễn

Miền Thượng, tức nơi cư trú của người Thượng, là khu vực Trường Sơn-Tây Nguyên, về cơ bản trùng với địa giới hành chính của năm tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đak Lắc, Đak Nông, Lâm Đồng ngày nay. Đây là vùng cao nguyên đại ngàn với 4/5 diện tích đất đai được bao phủ bởi rừng rậm, nhiều hơn bất cứ nơi nào trong cả nước. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chi phối và quy định lịch sử, truyền thống văn hóa cũng như tâm tính con người: “Gia Lai-Kon Tum, Đác Lác, Lang Bian, Bảo Lộc-Di Linh… đều là những cao nguyên có một ưu thế nổi bật: thảm thực vật rừng phong phú. Rừng rộng bao la. Cây cao bóng cả, rừng Tây Nguyên giàu nổi tiếng”[1]. Đấy là những dòng miêu tả rừng núi Tây Nguyên vào cuối thế kỷ XX, như vậy người ta có thể hình dung xem bộ mặt của vùng này hồi 4 thế kỷ trước ra sao. Lê Quý Đôn trong tác phẩm Phủ biên tạp lục của mình cũng mô tả sơ qua vùng thượng nguồn phía tây Thuận Hóa giáp Ai Lao này là vùng rừng núi lớn rậm rịt: “sang sông Gianh vượt núi Lệ-đệ, qua các xã đến trước cửa chùa xã Phúc-tự mới thấy núi dựng ngang là núi Ba-trinh, chuyển sang bên hữu mà đi lên, núi xanh biếc sừng sững, tự đấy đi lên mãi, tức là núi chia giới hạn Thuận-hóa với Ai-lao”[2].

Tây Nguyên là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộc thiểu số (sử sách các triều đại phong kiến trước kia đều gọi là dân Man, Man tộc) mà lịch sử khai phá của các tộc người ở đây có thể đẩy lên đến 2.500-3.000 năm cách ngày nay, muộn nhất là vào hậu kỳ đá cũ[3]. Người Kinh chỉ là một bộ phận xuất hiện mãi về sau này, khi các chúa Nguyễn, trong cuộc chiến tranh với chính quyền họ Trịnh ở Đàng Ngoài, bắt được tù binh và đưa lên đây khai hoang lập ấp sinh sống: “Đến thế kỷ thứ XVII, để mở rộng phạm vi ảnh hưởng lên Tây Nguyên, Chúa Nguyễn đã đưa những tù binh bị bắt trong chiến tranh Trịnh-Nguyễn lên khai phá vùng đất này. Khoảng niên hiệu Thịnh Đức (1653-1657), một số người Việt ở Nghệ An (trong đó có ông tổ 4 đời của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ) bị quân của Chúa Nguyễn bắt vào Đàng Trong cho ở ấp Nhất vùng Tây Sơn (thuộc huyện An Khê, tỉnh Gia Lai ngày nay). Có lẽ đây là nhóm người Việt đầu tiên lên sinh sống ở khu vực bắc Tây Nguyên”[4]. Thiết lập quyền lực tại một nơi mà các chủng tộc khác chiếm đa số, họ Nguyễn buộc phải tính đến các yếu tố làm sao để có thể vừa khai thác được thế mạnh của vùng này, mặt khác lại vừa không làm mất lòng các dân tộc bản địa. Thực tế cho thấy, đó không hề là một điều đơn giản và chính quyền họ Nguyễn không phải lúc nào cũng giữ được thế cân bằng giữa lợi ích các bên.

Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Thuận Hoá thực tế là đã đặt chân vào một tình thế nguy hiểm không kém gì khi ở bên cạnh ông anh rể của mình. Bỡ ngỡ trước vùng đất xa lạ được mệnh danh là “ác địa” (thời Lê, đây là nơi chuyên lưu đày các tội nhân phạm những trọng tội của Nhà nước), đoàn tùy tùng bé nhỏ của Đoan Quận công đứng trước sự đe doạ trực tiếp của các lực lượng nhà Mạc ở phía nam và lòng ghen ghét của họ Trịnh ở mặt bắc. Thêm vào đó, lòng dân bản xứ còn chưa yên, “thổ mục” nổi loạn cũng gây cho Nguyễn Hoàng không ít khó khăn. Âm mưu làm loạn của các Mỹ quận công, Tiên quận công… vào những năm 1571 và 1572 cho ta biết điều đó[5].

Đứng trước hàng loạt những mối nguy hiểm cả bên trong lẫn bên ngoài như vậy, trong điều kiện buổi đầu chính quyền còn chưa được xây dựng về cơ bản buộc Nguyễn Hoàng phải hết sức thận trọng trong việc quy hoạch một chiến lược lâu dài cho cả tông tộc của họ nhà mình, như lời ông đã nói: “Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang [Hoành Sơn] và sông Giang [Linh Giang] hiểm trở, phía nam có núi Đá Bia [Thạch Bi sơn] vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi vớí họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta”[6].

Tóm lại, nội dung chiến lược của họ Nguyễn đối với vùng người Thượng như là kết quả của sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố: một chính quyền còn đang trong tình trạng mong manh và chịu sự đe doạ từ cả hai mặt nam bắc, lại được xây dựng trên vùng đất còn xa lạ cả về chủng tộc và văn hoá phong tục. Chiến lược đó phải phục vụ cho mục tiêu lâu dài của dòng họ: sử dụng những tiềm lực từ phía tây (và cả phía đông nữa) để chống lại sự uy hiếp từ phương bắc và mở rộng bành trướng xuống phía nam. “Nhận định có tính chiến lược này tiềm tàng trong các chính sách của họ Nguyễn đối với vùng cao nguyên vào buổi đầu”[7].

Trong các kế sách an dân thì “khoan thư sức dân làm đầu”. Trước Nguyễn Hoàng, trấn thủ Quảng Nam Trấn quốc công Bùi Tá Hán đã thi hành những chính sách tương đối khoan dung và hiệu quả đối với vùng Thượng. Ông cho lập 6 đồn binh dọc các ranh giới với miền núi ở Quảng Ngãi để phòng giữ. Mỗi vùng người Mọi, ông đặt chức Giao dịch người Mọi để đặc trách trông nom đồng bào. Mỗi vùng dưới quyền cai trị của viên Giao dịch chia ra làm 4 nguyên, mỗi nguyên có một Cai quản và một số phụ tá. Cai quản lựa chọn những thương hộ để trao đổi, buôn bán với người Thượng. Các thương hộ thu thuế và nộp cho nhà cầm quyền người Việt[8].

Năm Chính trị thứ 13 (1570) Nguyễn Hoàng thay Nguyên quận công Nguyễn Bá Quýnh cai trị cả hai xứ Thuận Quảng, cầm binh voi và thuyền để trấn thủ dân địa phương[9], về cơ bản các chính sách của Nguyễn Hoàng không đi chệch khỏi đường lối ôn hoà của Bùi Tá Hán. Nhìn chung đó cũng là phương thức mà các vị chúa Nguyễn đầu tiên theo đuổi: “Ở Đàng Trong vào thời kỳ này, chỉ có năm lần người vùng cao nguyên tham gia các cuộc nổi dậy chống lại họ Nguyễn, một phần do chính sách hoà hoãn hơn là do họ Nguyễn đã kiểm soát được các dân tộc này”[10].

Chiến lược được hoạch định, các biện pháp được vạch ra và mang những động cơ sâu xa hơn là cái vẻ bề ngoài của nó. Li Tana có dẫn đến hai cuộc hôn nhân nhằm mục đích gây thiện cảm, “nằm trong chiến lược phòng thủ” vào những năm 1620 giữa một người con gái của Nhân Chiêu vương Phúc Nguyên với vua Chetta II của Cao Mên và cuộc hôn nhân khác với vua Po Rome của vương quốc Chăm[11]. Mặc dù ở đây chúng tôi chưa dám khẳng định cuộc hôn nhân thứ hai mà Hickey đã đề cập tới là có thật hay không nhưng giả sử nó là thật thì cũng không có gì lạ. Hôn nhân chính trị là một thủ đoạn mà các bậc quyền biến ngày xưa thường hay sử dụng để đạt được mục đích.

Đối với các bộ tộc ở Ai Lao, ban đầu các chúa Nguyễn chủ trương vỗ về an ủi nhưng đứng ngoài các mâu thuẫn, như trong vụ biến loạn năm 1715: “Bấy giờ tù trưởng Man là Chiểu Đồn Không bị người nước là Tạo Vĩ bức bách, nên sai sứ sang cống để cầu giúp quân. Chúa sai sứ mang thư sang an ủi vỗ về và xem binh thế mạnh yếu cùng địa thế hiểm dễ thế nào?”[12].

Các chính sách chiêu dụ buổi đầu của họ Nguyễn đã đem lại được kết quả tốt: “Quân dân hai xứ thân yêu tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp”[13]. Chính nhờ thế, họ Nguyễn đã thu phục được cảm tình của đồng bào Thượng mà một bằng chứng là vào tháng 9-1695, một kẻ lái buôn tên Linh nổi dậy ở Quảng Ngãi với những vũ khí tự chế của mình, người Man đã giúp Chúa Nguyễn Phúc Chu dẹp yên[14]. Một loạt các chúa được dân xưng tụng là Chúa Tiên, Chúa Sãi, Chúa Thượng, Chúa Hiền, Chúa Nghĩa, điều mà về sau này không hề có.

Bên cạnh hôn nhân chính trị, các chúa Nguyễn còn sử dụng con đường ban cấp lễ lộc mua chuộc lòng trung thành của các bộ tộc người Thượng. Đại Nam thực lục tiền biên có chép nhiều ví dụ thuộc loại này:

[1711] “Đôn vương và Nga vương ở hai rợ man Nam Bàn và Trà Lai (giáp giới Phú Yên và Bình Định, hình như thuộc về Hoả quốc, nhưng không lấy làm đích xác) sai sứ đến dâng sản vật địa phương và trình bày rằng dân họ không chịu đóng thuế, nên không lấy gì để sống, xin phát quân ra oai. Chúa cho rằng ký thuộc là Kiêm Đức (không rõ họ) đã từng đi chiêu dụ hai rợ Man, quen hiểu thói Man, nên cho đem thư đến hiểu dụ những tù trưởng, cho áo sa áo đoạn và đồ đồng đồ sứ, lại lấy nghĩa kẻ trên người dưới khuyên bảo dân Man, định ra thuế lệ, khiến phải nộp cho Man trưởng. Người Man không ai không theo mệnh”[15].

Hoặc

[1751] “Thuỷ Xá, Hoả Xá vào cống. Hai nước ở phía trên nước Nam Bàn (khi Lê Thánh Tông đánh được Chiêm Thành dòng dõi nước ấy làm vua nước Nam Bàn, cắt cho đất từ núi Thạch Bi về phía tây), thôn lạc có hơn năm chục, giữa có núi Bà Nam rất cao, vua Thuỷ Xá ở phía đông núi, vua Hoả Xá ở phía tây núi. Buổi quốc sơ vì cớ họ giáp với Phú Yên, cứ 5 năm một lần sai người đến các nước ấy cho quà (áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt và chén đĩa bằng sứ). Vua hai nước ấy nhận được vật cho, tức thì sắm sửa phẩm vật địa phương (kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực) để hiến. Tới đây sai sứ sang cống. Chúa hậu tứ rồi cho về”[16].

Hoặc:

[1761] “Tân tỵ, năm thứ 23 [1761], mùa xuân, tháng 2, nước Vạn Tượng đến cống. Vạn Tượng ở vào giữa Ai Lao và Lục Hoàn. Buổi quốc sơ cho họ cùng với dân Man ở Cam Lộ qua lại buôn bán, do đó họ mến đức sợ oai, thường sai sứ đến thông hiếu, nay lại đến cống. (Cống phẩm có voi đực, sáp ong, sừng tê, khăn đỏ, nhiều ít tuỳ tiện, không có định hạn). Khi sứ về thì gửi cho tù trưởng gấm, vóc, sô, lụa”[17].

Như vậy, chính sách hoà hoãn và vỗ yên miền Thượng ban đầu chỉ là một bộ phận phục vụ cho mục tiên chiến lược lâu dài của họ Nguyễn là “chống chọi với họ Trịnh” để “xây dựng cơ nghiệp muôn đời”. Trong điều kiện mong manh của chính quyền buổi đầu lại phải chống chọi với kẻ thù ở cả hai phương bắc nam thì sự lựa chọn đó của họ Nguyễn tỏ ra hợp lý, huy động một cách hiệu quả các nguồn lực của miền Thượng phối hợp với các nguồn lực khác tăng cường sức mạnh quốc gia đủ sức phân tranh với tập đoàn Lê-Trịnh. Chính sách đó dĩ nhiên đã khuyến khích các mối quan hệ giao lưu buôn bán giữa hai miền xuôi ngược.

Tuy nhiên, sau khi chính quyền được củng cố và đồng thời sức ép từ hai phía đã giảm xuống đáng kể, Đàng Trong được hưởng một thời gian dài tương đối yên ổn thì cũng là lúc chính sách đối với miền Thượng mất dần đi tính chất ôn hoà của nó. Thay vào đó, họ Nguyễn, trong quá trình chuyển dần từ một mô hình chính quyền quân sự sang mô hình chính quyền dân sự như quan điểm của Li Tana[18], lại đã cố gắng thiết lập quyền kiểm soát của mình lên trên các bộ tộc người Thượng bằng các biện pháp hành chính và quân sự, giảm quyền lợi và tăng nghĩa vụ. Và như vậy, thế cân bằng lợi ích giữa hai bên vốn được các Chúa Tiên, Chúa Hiền… xây dựng, duy trì những ngày đầu đã bị vi phạm, xói mòn dẫn đến tan vỡ. Hậu quả của tình trạng đó là họ Nguyễn đã mất dần đi lòng tín phục của cộng đồng cư dân thượng nguồn. Sự nổi dậy của thế giới người Thượng và đặc biệt là sự tham gia của họ vào cuộc khởi nghĩa Tây Sơn như là câu trả lời quyết liệt trước các chính sách của họ Nguyễn, góp phần đập tan cơ đồ của họ này vào năm 1777.

Năm 1708, tức là 150 năm sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá và 36 năm kể từ sau lần giáp chiến lớn cuối cùng với quân Trịnh (1672), một khoảng thời gian đủ dài để những bậc công thần như Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến… củng cố được chính quyền vững mạnh thì “Mùa thu, tháng 7, bọn ác man ở Lũ Bá, Bà Rịa và bọn man Nam Bàn quấy rối cướp bóc dân ở biên thuỳ, chúa sai Câu kê dinh Quảng Nam là Hoè Đức (không rõ họ) đem quân bản đi đánh”[19]. 38 năm sau, một lần nữa lại xảy ra đàn áp của Phú Xuân: “Người Man Thuận Thành [người Chàm] là Dương Bao Lai và Diệp Mã Lăng nổi loạn. Lưu thủ dinh Trấn Biên là Nguyễn Cương đem quân đi đánh, đắp lũy Cổ Tỉnh để chống giặc, thừa lúc sơ hở đánh úp bắt được Bao Lai và Mã Lăng giết đi”[20]. Năm 1770, những người Thượng ở Đá Vách (Quảng Ngãi) nổi lên khởi nghĩa, Nguyễn Phúc Thuần phải cho biên dân lập làm 6 đạo quân chia phiên đóng giữ[21]. Một năm sau, 1771, ba anh em Tây Sơn khởi nghĩa, thu hút người Thượng tham gia và 6 năm sau đó, đập tan phủ Chúa, đuổi Nguyễn Ánh ra khỏi đất nước.

Như vậy, chính sách đối với miền Thượng của chính quyền họ Nguyễn từ thế kỷ XVI đến XVIII không phải là một chính sách thống nhất, nó có xu hướng cực đoan hoá trong giai đoạn về sau, khi mà chính quyền đã được củng cố về căn bản. Sự thay đổi đã gây nên những lực phản hồi, kết tập lại trong phong trào Tây Sơn và đập tan chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong và cả Lê-Trịnh ở Đàng Ngoài. Sai lầm của họ Nguyễn ở giai đoạn về sau trong đối sách với miền Thượng là đã quên đi rằng, đây là một vùng đất khác, gồm những tộc người khác, một nền văn hoá khác và phát triển theo con đường rất riêng so với xã hội Đại Việt đương thời. Những đặc điểm đó quy định cách khu xử mềm mỏng, khôn khéo mà các Chúa Tiên, Chúa Sãi đã chỉ ra. Trong giai đoạn về sau, chính quyền họ Nguyễn ngày càng có xu hướng quan liêu hoá cao độ, đã thay đổi đường lối cai trị đối với miền Thượng, thiên về áp đặt và đòi hỏi hơn. Do đó đã gây nên sự bất bình không chỉ trong thế giới người Thượng mà cả trong lòng đông đảo dân chúng Đàng Trong. Mất đi lòng dân, họ Nguyễn đã dễ dàng bị Tây Sơn đánh sập bằng chính thứ vũ khí mà ngày xưa cha ông họ buổi đầu khai phá đã có được: “Trước hết, và đặc biệt trong những năm đầu, phong trào [Tây Sơn-HTT] đã tranh thủ được mối quan hệ chặt chẽ của các dân tộc cao nguyên. Trong khi chính họ Nguyễn, vào những ngày đầu, đã dành được lợi điểm từ các quan hệ với các dân địa phương và qua việc tiếp nhận và thích nghi các yếu tố văn hoá của họ, thì trớ trêu thay, chính những diễn biến này lại cũng góp phần tạo ra kẻ thù có sức mạnh gần như tiêu diệt họ”[22].

Việc phân tích những nguyên nhân chính trị làm cho ta hiểu được mối quan hệ giao thương giữa hai vùng đồng bằng với miền Thượng trong suốt thời gian tồn tại của Đàng Trong: nó cũng mạnh mẽ trong giai đoạn đầu và yếu ớt trong giai đoạn sau để rồi (gần như) dứt hẳn trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

II. Miền Thượng trong mối quan hệ giao lưu kinh tế với Đàng Trong

Lịch sử giao lưu, tiếp xúc văn hóa-kinh tế giữa miền Thượng với vùng đất mà sau này người ta gọi là Đàng Trong đã diễn ra từ rất lâu đời trước khi những ảnh hưởng đầu tiên của người Kinh bắt đầu lan tỏa đến khu vực này. Những di chỉ, hiện vật được tìm thấy ở Tây Nguyên vào thời tiền sử, chứng tỏ rằng, đã có những mỗi giao lưu cởi mở giữa các vùng khác trên khắp Việt Nam và cả Lào, Campuchia… với khu vực Tây Nguyên[23]. Sau công nguyên, cùng với sự hình thành và phát triển của các quốc gia trên lãnh thổ miền Trung và Nam Việt Nam như Champa, Phù Nam và xa hơn nữa là Xiêm… Tây Nguyên rơi vào vòng xoáy tranh chấp giữa các quốc gia này, một thời kỳ không ổn định kéo dài. Nhưng đồng thời, điều đó cũng chứng tỏ rằng, cường độ giao lưu, tiếp xúc văn hóa giữa Tây Nguyên với các khu vực xung quanh vẫn được duy trì và củng cố: “từ thế kỷ VII đã diễn ra những cuộc gặp gỡ, khá thường xuyên… và các hoạt động trao đổi thực phẩm, đồ dùng của người Việt với các thành phần dân tộc ở Trường Sơn-Tây Nguyên và ven biển miền Trung… nhưng có thể nói rằng vào thời gian này, văn hóa Việt ảnh hưởng vào văn hóa-xã hội vùng Tây Nguyên chưa rõ nét”[24].

Nguyễn Hoàng vào trấn thủ hai xứ Thuận Quảng và mở mang bờ cõi về phương nam đã tiếp tục phát huy truyền thống giao lưu kinh tế-văn hóa giữa Tây Nguyên với các bộ phận lãnh thổ khác của Đàng Trong.

Việc huy động các nguồn lợi lâm thổ sản của miền Thượng đòi hỏi phải thiết lập được mạng lưới giao thông nối liền hai miền đồng bằng và miền núi. Li Tana chỉ ra con đường thương mại quan trọng nhất Đàng Trong vào buổi đầu là con đường chạy qua đèo Ai Lao, từ sông Mékong đến bờ biển Quảng Trị, tập trung ở thị trấn Cam Lộ, xuôi xuống Cửa Việt rồi kéo lên Lao Bảo[25]. Lê Quý Đôn miêu tả con đường này như sau: “Xã Cam-lộ huyện Đăng-xương ở về thượng lưu sông Điếu-giang, dưới thông với cửa Việt, trên tiếp với nguồn Sái ở Ai-lao, đường đi của dân man các sách đều phải qua đấy, ở xa thì đến các bộ lạc Lào ở nước Lạc-hoàn, nước Vạn-tượng, phủ Trấn-ninh, châu Qui-hợp đều có đường thông ra tự đấy. Từ xã ấy đi vào 1 ngày đến phương An-khang, có tuần gọi là Ba-giăng, cũng gọi là đồn Hiếu-giang… Từ tuần này đi 2 ngày rưỡi đến bờ sông Đại-giang thuộc địa giới nước Ai-lao, họ Nguyễn có đặt dinh đóng quân 6 thuyền ở đấy gọi là dinh Ai-lao. Phía hữu sông xã Cam-lộ, có tuần Cây-lúa… Từ đấy là để thông sang Mường-vanh, Vạn-tượng. Phía tả tuần Hiếu-giang có tuần Ngưu-cước… Hai bên tả hữu phải trên sông Hiếu-giang thì dân các động sách ở, cày cấy chăn nuôi rất nhiều…”[26].

Như vậy là đã có một hành lang nối liền xứ Thuận Quảng với khu vực bắc Tây Nguyên, chủ yếu nối liền miền đồng bằng Quảng Trị, Quảng Ngãi ngày nay với khu vực miền núi phía tây Quảng Ngãi, giáp với Kon Tum. Trên tuyến hành lang đó, việc trao đổi mua bán được diễn ra khá sôi nổi, “người buôn ở các xã thường mang muối, nắm, cá khô, đồ sắt, nồi đồng, thoi bạc, hoa xuyến, các đồ lặt vặt, đến đất người Man đổi lấy các hàng hóa thóc, gạo, gà, trâu, gai, sáp, mây, gió, vải man, màn man, thuê voi chở về Cam-lộ. Người Man cũng có lấy voi chở hàng hóa xuống chợ Cam-lộ để bán, một con voi chở được 30 gánh, mỗi gánh được 20 bát. Cũng có một phiên chợ lùa trâu đến 300 con đến bán, giá một con trâu không quá 10 quan, giá một con voi chỉ 2 hốt bạc và một khẩu súng nhỏ”[27]. Nhận xét về con đường này, Đỗ Bang viết rằng: “Vào thời kỳ Hội An, Thanh Hà, Phố Hiến phồn thịnh thì ngay trên đất Thuận Hóa đã hình thành một thị trường nội địa, trao đổi hàng hóa giữa miền Ngược và miền Xuôi và hai miền Nam Bắc của đất nước qua con đường Thượng đạo ở biên giới Việt-Lào”[28].

Con đường quan trọng thứ hai nối liền miền Thượng với đồng bằng đi qua ngả An Khê, về cơ bản trùng với quốc lộ 19 từ Gia Lai đi Bình Định, xuyên qua hai đèo Mang Yang (Cổng trời như người Bana gọi hoặc là Cửa ngõ kinh đô (Tvea Phreah Nakor) mà người Êđê gọi) và đèo An Khê (An Sơn). Hai đèo này thuộc về dãy núi An Khê khởi nguồn từ phía nam sông Trà Khúc đến tận thung lũng sông Ba, dài 175km rộng 30-40km, độ cao trung bình 500m, là một dãy núi khá đồ sộ và hiểm trở. Tuy nhiên, ở phía tây dãy núi An Khê, phía nam cao nguyên Kon Hànừng là cánh đồng An Khê, một kiểu thung lũng giữa núi bị san bằng và mở rộng, rộng 15km, chạy dài 45km và cao trung bình 400-500m[29]. Cánh đồng An Khê là trung tâm kinh tế lớn trong nhiều thế kỷ, các bộ tộc Bana, Jarai… mang các thứ lâm thổ sản xuống trao đổi với hàng hóa của người Kinh ngược lên. Clive J.Christie có nhắc đến một hệ thống những các-lái vừa là quan chức, vừa là thương nhân đứng ra dàn xếp những vụ buôn bán cũng chính là ở khu vực này[30]. Hai trầu Nguyễn Nhạc trước khi khởi binh đã từng xuôi ngược buôn bán ở An Sơn và được các bộ tộc người thiểu số tin yêu: “Kiên Thành[31] cùng ở trên bờ sông Côn như các sông nhỏ miền Trung khác, nối liền đồng biển và núi rừng, đóng vai trò rất quan trọng về nhân văn, kinh tế. Những sông lớn này tạo nên những vùng đất nhỏ hẹp nhưng rất phì nhiêu. Chúng là con đường giao thông trao đổi phẩm vật trên rừng, dưới biển. Trên rừng có mật ong, trầm hương, măng le, vàng… chuyển xuống đồng đổi lấy gạo, chế phẩm (vải lụa, đồ sắt…). Lâm sản, lúa gạo lại đưa xuống các vùng biển để chuyên chở ngược về nguồn những loại cá, mắm, muối, đồng sắt. Vùng Ba huyện có địa điểm Kiên Thành như một giao điểm hội tụ của phẩm vật các nguồn Kim Sơn, Đồng Hươu, An Tượng… chuyển xuống Nước Mặn, Thi Nại để ra biển và cũng là chỗ phân phối ngược lên các tài nguyên ngoài biển cả đưa vào”[32].

Hoặc như câu ca dao quen thuộc miêu tả mối giao lưu buôn bán giữa miền ngược xuôi:

“Ai về nhắn với nậu nguồn

Măng le gửi xuống, cá chuồn gửi lên”

“Ai về nhắn với nậu nguồn

Mít non gửi xuống, cá chuồn gửi lên”

Hồi ký của vị giáo sĩ P. Dourisboure cũng cho biết có việc trao đổi, mua bán muối giữa người vùng đồng bằng với các bộ lạc người Bana ở phía đông Gia Lai rồi họ lại dùng muối để trao đổi với người Xêđăng, Rơngao… lấy những vật phẩm cần thiết khác[33].

Nếu như ở phía bắc Tây Nguyên, các mặt hàng được tập kết tại Cam Lộ rồi chuyển ra Hội An thì ở vùng An Khê này, cảng Nước Mặn lại đóng vai trò quan trọng như là cửa khẩu chủ yếu của Trung Tây Nguyên thông ra biển: “Nước Mặn-Quy Nhơn là cảng khẩu không chỉ riêng của đất Quy Nhơn-Bình Định mà cả vùng Tây Nguyên rộng lớn và giao lưu với các thương cảng ở trong và ngoài nước trong bốn thế kỷ qua”[34].

Bằng cách này hay cách khác, chính quyền họ Nguyễn cũng đã thiết lập được các ngả đường nối liền hai miền núi với đồng bằng, khai thác các nguồn lợi của miền Thượng làm giàu cho đất nước. Các sản vật của miền Thượng như ngà voi, sừng tê, mật ong, sáp ong, mây, kỳ nam, trầm hương… mang đổi lấy cá, muối, nước mắm, đồ trang sức… của đồng bằng. Lê Quý Đôn cho biết: “Theo sông Phú-xuân đi ngược dòng mà lên đến tuần ngã ba Bình-lãng huyện Hương-trà thì có hai nguồn: bên tả là nguồn Tả-trạch bên hữu là nguồn Hữu-trạch. Nguồn Tả-trạch đi qua các phường xã An-ninh, Kim-ngọc, Dương-lăng, còn là dân thường. Từ đấy mà lên đều là núi rừng lớn, đi hai ngày đường đến sách Làng-nước của người Man dưới, rồi đến sách Hà-vãn, phường Hà-lạc, phường Ma-ra, dọc đường các lái buôn đem các thứ muối, mắm, trâu, đồ nông cụ, thanh la đổi lấy các thứ mây sắt, mây trắng, sáp ong, mật ong… Nguồn hữu trạch đi qua nguồn An-bình là nơi mồ mả tiên nhân họ Nguyễn ở đấy. Phường Cây-bông trở lên đều là núi rừng lớn. Đi quá nửa ngày đến sách Làng-răng đều là dân Man. Từ đấy mà lên, núi khe rậm rịt, không có dân cư. Đi một ngày rưỡi đến sách Ngọn-sào. Lại đi một ngày qua khe Cha-lạnh, đến sách A-man-cách, chỗ này nhiều cây kiền kiền và cây gỗ tạp. Lại đi một ngày đến sách A-ra (Đốc-sơ), trở lên đều là người Man cao ở, các lái buôn không đến được, chỉ đến mua bán ở xứ Bãi-đinh Cây-bông thôi. Các dân Man cũng thường đến đấy đổi chác hóa vật, cũng như ở nguồn Tả-trạch. Đại khái dân Man lúc thường lễ tiết hay dùng trâu lợn cùng là thanh la, đồ đồng, các vật ấy bán chạy lắm”[35].

Các mối giao lưu kinh tế còn diễn ra cả với nước Thủy Xá và Hỏa Xá của các bộ tộc người Jarai như Phủ biên tạp lục cho biết: “Trong thời họ Nguyễn vỗ trị, thường cứ năm năm một lần sai cai đội Phú-yên làm chánh phó sứ đem cho áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo gang, bát sứ các vật và thu thuế cống. Sai người thổ trại Làng-xung-thượng phủ Qui-nhơn dẫn đường đến Phú-yên chỗ giáp đầu nguồn Hà-trôi. Lại sai người Đê dẫn đường đến các sách Man thượng và Man cao, cho đến nước ấy [tức Thủy Xá và Hỏa Xá-HTT]. Nước ấy soạn ngay các thứ kỳ nam, sáp ong, lộc nhung, tê giác, mật gấu, voi đực, giao cho sứ giả đem về dâng. Lại dâng hương do ngũ vị chế thành. Núi nước ấy có tổ kiến trên cây, con kiến non đen to như đầu đũa. Trứng và con đều thơm, gọi là hương con kiến. Người Man lấy đồ qua, lại lấy hoa khảm, hoa mộc, rễ bài trộn lẫn vào, lấy dầu tô-hạp hòa vào, lấy lá chuối gói lại, để đồ ở trên chõ cơm xôi. Cơm chín thì lấy ra, hơi thơm ngát. Để hương ấy vào trong hòm áo, một năm không hết mùi thơm”[36].

Phương đình Nguyễn Văn Siêu cũng viết: “Buổi quốc sơ (thời các chúa Nguyễn), 2 nước ấy [Thủy xá và Hỏa xá-HTT] đều dâng đồ cống tỏ lòng thành. Cứ 5 năm 1 lần chúa sai sứ đem áo gấm đồ đồng đến hai nước ấy mà ban cho”[37].

Kỳ nam, trầm hương là những mặt hàng đặc biệt và chỉ ở miền núi mới có. Lê Quý Đôn nhận xét rằng, trầm hương sản xuất ở Chân Lạp là tốt nhất, thứ đến của Chiêm Thành. Theo Li Tana, người Chăm đã đóng vai trò như là người trung gian môi giới, mua lại kỳ nam, trầm hương của người Thượng rồi bán cho các thuyền buôn nước ngoài[38]. Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết, họ Nguyễn lập ra những trường giao dịch ở các nguồn thuộc tỉnh Bình Định, đạo Phú Yên làm nơi thu mua sản vật miền núi. Ví dụ như nguồn An Tượng (Bình Định) chuyên sản xuất củ nâu, nguồn Hà Thanh cung cấp thuốc lá, nguồn Thạch Bàn mỗi năm nộp thuế 56 cân linh sáp ong; gỗ kiền kiền, trầm hương, kỳ nam đều có thuế… Tại đạo Phú Yên có hai nguồn là Hà Duy và Thạch Thành đều có trường giao dịch. Nguồn Thạch Thành hàng năm phải nộp thuế 364 cân sáp ong, Hà Duy là 30 cân; Thạch Thành 325 cân mật ong, Hà Duy 300 cân một năm… Giáng hương, kỳ nam, sa nhân… ở hai nguồn đều phải nộp thuế hàng năm[39].

Buôn bán người Thượng làm nô tì cũng là một hoạt động kinh tế phổ biến đến mức chính quyền đánh thuế. Giá một nô tì Mọi là 20 quan, da hơi trắng một chút chỉ còn hơn 10 quan: “Người giàu ở các địa phương hoặc 40, 50 nhà, hoặc 20, 30 nhà, mỗi nhà điền nô hoặc đến 50, 60 người, trâu bò hoặc đến 300, 400 con…”[40].

Vào thế kỷ XVI-XVII, thương mại biển Đông phát triển mạnh mẽ, hình thành nên một loạt các đô thị, cảng biển lớn thu hút các nguồn hàng hóa từ khắp nơi tụ về. Đàng Trong lúc này có các trung tâm kinh tế lớn như Hội An, Thanh Hà, Nước Mặn… hoạt động nhộn nhịp, tạo ra nguồn thu lớn cho chính quyền. Sang thế kỷ XVIII, thương mại biển Đông yếu dần, các nguồn lợi thu được từ nền kinh tế ngoại thương suy giảm, gánh nặng tài chính lúc này đè nặng dần lên cao nguyên miền Thượng để bù đắp cho sự thiếu hụt của các nguồn lực phía đông: “Đây là một sự mất mát quan trọng của họ Nguyễn từ lâu vẫn dựa vào ngoại thương như một nhân tố bảo đảm sự sống còn của nền kinh tế địa phương. Họ Nguyễn đã đối phó bằng cách đẩy mạnh hơn việc kiểm soát của họ trên miền núi và cao nguyên, hy vọng lấy phía tây để bù đắp những gì họ đã mất ở phía đông”[41].

Sự vá víu như vậy đã gây hại cho thế giới người Thượng. Li Tana dẫn ra tình hình thu thuế của chính quyền vào năm 1768, cho thấy rằng thuế thu được từ các nguồn người Thượng lên đến 38.728 quan, chiếm 48,67% tổng thuế thu được trong năm đó. Năm 1771, mức thuế thu được từ số người Thượng gần bằng tổng số thuế thu được từ nền ngoại thương[42]. Đó là chưa kể các thứ thuế hiện vật như ngà voi, mật ong, sừng tê… Lê Quý Đôn cho hay, vào năm 1774, người Sách ở nguồn An Đại huyện Khang Lộc chỉ có 11 đinh mà phải đóng tới 434 quan 3 tiền 30 đồng tiền thuế, tức trung bình mỗi người phải đóng 39,45 quan/năm, nặng hơn nhiều so với người Kinh ở đồng bằng. Nguồn An Náu chỉ có 31 đinh mà phải đóng đến 395 quan, bình quân 12,77 quan/người/năm; nguồn Cẩm Lý có 10 suất đinh phải đóng 994 quan 6 tiền 30 đồng[43]. Thuế má thực sự là gánh nặng đối với người Thượng: “Vì cần tài chánh, triều đình Huế gia tăng áp lực trên người miền núi để giúp bù vào sự thâm hụt trong thu nhập do tình hình sa sút của nền ngoại thương gây nên. Và hậu quả là họ đã đẩy người vùng cao nguyên tới đường cùng”[44].

*

*   *

1. Cao nguyên miền Thượng là vùng đất có vai trò quan trọng đối với sự tồn vong của chính quyền các chúa Nguyễn trong suốt thời kỳ hoạt động chính trị của họ. Khởi đầu từ Nguyễn Hoàng rời bỏ miền đồng bằng nông nghiệp Bắc Hà vốn đã quá chật hẹp và trở nên căng thẳng sau 10 thế kỷ kết tập chung sống, bằng con mắt chiến lược của mình, ông đã xác định rằng miền núi (và miền biển) chính là bầu sữa dạt dào cho cơ nghiệp vào buổi đầu khai sinh. Sự lựa chọn lâm nghiệp (phía tây) và thương nghiệp (phía đông) có vẻ như khác biệt so với truyền thống trọng nông vốn có của cha ông ta. Lựa chọn đó dĩ nhiên mang hạt nhân hợp lý của nó:

Thứ nhất, việc Nguyễn Hoàng tìm mọi cách để được vào trấn thủ Thuận Hóa ban đầu như là một cuộc trốn chạy khỏi dã tâm của ông anh rể Trịnh Kiểm nhiều quyền lực hơn là một chiến lược lập quốc phân tranh với họ Trịnh. Tuy nhiên, ngay khi đã cao chạy xa bay được rồi thì mối đe dọa từ Bắc hà vẫn còn đó, thêm vào nữa là áp lực của quân nhà Mạc và các nhóm người Chăm ở phía nam vọng lên, trực tiếp đe doạ đến sự tồn vong của Nguyễn Hoàng cùng đoàn tùy tùng. Tình thế lưỡng đầu thọ địch buộc Nguyễn Hoàng phải ngay lập tức tính đến chuyện gây dựng lực lượng tự vệ; thu phục và củng cố nhân tâm để tạo thế đứng vững chắc cho mình. Công cuộc tổ chức đòi hỏi phải tiêu tốn nhiều nguồn tài lực vật lực to lớn mà ngay trước mắt, buộc Nguyễn Hoàng phải hành động khác với tư duy trọng nông cổ truyền. Đứng từ Thuận Hóa mà nhìn, vào thế kỷ XVI, dải đồng bằng ven biển miền Trung vốn đã èo uột lại phải gánh chịu đủ thứ thiên tai; trong khi châu thổ sông Cửu Long còn chưa với tới, rừng rậm âm u, mỗi bước đi mỗi cá sấu và cả họat động của các nhóm chống đối người Chăm và người Chân Lạp. Việc khai thác hai miền đồng bằng này đòi hỏi một thời gian dài và phải tiến hành từ từ. Kinh tế nông nghiệp cổ truyền không thể ngay lập tức giúp Nguyễn Hoàng có được những nguồn lực mà ông đang cần kíp.

Thứ hai, trong khi đó thì miền núi phía tây và vùng biển phía đông lại mang trong mình những điều kiện thuận lợi riêng. Nguồn lợi thủy sản to lớn và địa thế các bờ biển miền Trung là rất lý tưởng cho việc xây dựng các cảng biển; núi rừng phía tây lại phong phú sản vật, đúng như Nguyễn Hoàng đã nói: “Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối”, tức là đã sẵn có, chỉ việc khai thác về sử dụng. Thương mại biển Đông phát triển mạnh như ngọn gió nâng cánh diều nền kinh tế Đàng Trong lên mau chóng: “Đàng Trong đã ra đời đúng thời đúng buổi, trong một “thời đại thương nghiệp”. Chúng ta có thể nói một cách hoàn toàn bảo đảm rằng chính thương nghiệp đã làm cho vương quốc mới của Việt Nam chỉ trong vòng ít thập niên trở nên giàu có và đủ mạnh để có thể duy trì được nền độc lập của mình đối với phía bắc và mở rộng về phía nam”[45].

2. Việc hoạch định chiến lược đối với miền Thượng của các chúa Nguyễn chịu sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố như trên đã nói, do đó, buộc chính quyền phải cực kỳ thận trọng và chính xác. Bất cứ một sự thái quá nào cũng đều có nguy cơ dẫn đến những phản ứng ngược lại từ thế giới người Thượng. Các vị chúa đầu tiên nhận thức được trạng thái mong manh của uy quyền, do đó đã thi hành nhiều chính sách khéo léo, tôn trọng thế cân bằng giữa quyền lợi của các bên: Phú Xuân khai thác miền Thượng đồng thời cũng ban thưởng cho các thủ lĩnh địa phương. Quan hệ buôn bán giữa cao nguyên với đồng bằng thịnh đạt nhất trong thời gian này như ta đã thấy, mặc dù cơ sở tư liệu để phục dựng lại bức tranh giao thương giữa hai miền như nó vốn có là ít ỏi và khó khăn.

Phú Xuân bắt đầu thắt chặt chính sách của mình vào giai đoạn về sau, khi áp lực ở hai đầu vương quốc đã giảm xuống và chính quyền được củng cố vững chắc hơn: “Chắc chắn các thập niên 1750 và 1760 là thời kỳ họ Nguyễn bắt đầu siết chặt quyền kiểm soát của họ trên các dân tộc vùng cao nguyên”[46]. Từ những năm 1750, thương mại biển Đông có dấu hiệu suy giảm thì đồng thời gánh nặng tài chính cũng tăng dần trên vai các dân tộc miền núi. Năm 1771, mức thuế thu được từ người Thượng gần bằng tổng số thuế thu được từ nền ngoại thương và những con số mà Lê Quý Đôn nêu ra cho thấy điều đó. Liệt truyện chính biên sơ tập và cuốn hồi ký của P. Dourisboure mà Li Tana đã dẫn lại, kể rằng không khí nơi người Thượng như là luôn luôn giông tố mỗi khi viên thu thuế đến thúc bách[47]. Thế cân bằng giữa quyền lợi hai bên bị phá vỡ và người Thượng đứng lên chống lại chính quyền Đàng Trong. Các hoạt động giao thương cũng yếu dần và gần như dứt hẳn khi phong trào Tây Sơn nổ ra.

Vấn đề kinh tế do vậy, liên hệ mật thiết với vấn đề dân tộc. Họ Nguyễn đã đánh mất lòng tin của thế giới người Thượng và miền Thượng tiếp tục là nỗi đau đầu đối với triều Nguyễn về sau.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Clive J.Christie, “Lịch sử Đông Nam Á hiện đại”, nxb CTQG, H, 2000
  2. Đỗ Bang, “Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII”, H, 1993 (bản lưu tại Thư viện Quốc gia)
  3. Hoàng Văn Huyên, “Tây Nguyên”, nxb Văn hóa, H, 1980
  4. Lê Quý Đôn, Toàn tập, tập 1: Phủ biên tạp lục, nxb KHXH, H, 1977
  5. Li Tana, “Xứ Đàng Trong. Lịch sử kinh tế-xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18” (bản lưu tại Thư viện Quốc gia)
  6. Nguyễn Tuấn Triết, “Tây Nguyên những chặng đường lịch sử văn hóa”, nxb KHXH, 2007
  7. Nguyễn Văn Chiển (cb), “Tây Nguyên những điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên”, nxb KHKT, H, 1985
  8. P. Dourisboure, “Dân làng hồ”, Sài gòn xuất bản, 1972
  9. Phan Khoang, “Việt sử xứ Đàng Trong”, nxb Văn học, 2000
  10. Quốc Sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, tập 3, nxb Thuận Hóa, Huế, 2006
  11. Quốc Sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam thực lục”, tập 1, nxb Giáo dục, 2004
  12. Sở VHTT-TT Hải Hưng, Kỷ yếu hội thảo khoa học Phố Hiến, 1994
  13. Tạ Chí Đại Trường, “Việt Nam thời Tây Sơn. Lịch sử nội chiến 1771-1802”, nxb CAND, 2007
  14. Xưa&Nay, số 73B, tháng 3.2000
  15. Xưa&Nay, số 224, tháng 11.2004

[1] Hoàng Văn Huyên, “Tây Nguyên”, nxb Văn hóa, H, 1980, tr.32

[2] Lê Quý Đôn, Toàn tập, tập 1: Phủ biên tạp lục, nxb KHXH, H, 1977, tr.102

[3] Phong Lan, “Bí mật di chỉ Lung Leng”, in trong Xưa&Nay, số 73B tháng 3.2000, tr.14-15

[4] Vũ Ngọc Bình, “Khu vực bắc Tây Nguyên trước thế kỷ XX”, in trong Xưa&Nay, số 224, tháng 11-1924, tr.13

[5] Lê Quý Đôn, sđd, tr.50 và Quốc Sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam thực lục”, tập 1, nxb Giáo dục, 2004, tr.30

[6] Quốc Sử quán triều Nguyễn, sđd, tr.37

[7] Li Tana, “Xứ Đàng Trong. Lịch sử kinh tế-xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18”, tr.173 (bản lưu tại Thư viện Quốc gia)

[8] Phan Khoang, “Việt sử xứ Đàng Trong 1558-1777”, nxb Văn học, 2000, tr.401 và Hoàng Văn Huyên, sđd, tr.63 và Vũ Ngọc Bình, sđd, tr.12-13

[9] Lê Quý Đôn, sđd, tr.49-50

[10] Li Tana, sđd, tr.174

[11] Li Tana, sđd, tr.173, bà dẫn lại của G. C. Hickey, “Sons of the mountains”, Yale University Press, New Heaven and London, 1982, p.89

[12] Quốc Sử quán, sđd, tr.133

[13] Lê Quý Đôn, sđd, tr.50

[14] Quốc Sử quán, sđd, tr.110

[15] Quốc Sử quán, sđd, tr.126

[16] Quốc Sử quán, sđd, tr.157

[17] Quốc Sử quán, sđd, tr.167

[18] Li Tana, sđd, tr.208

[19] Phan Khoang, sđd, tr.404

[20] Quốc Sử quán, sđd, tr.154

[21] Quốc Sử quán, sđd, tr.174

[22] Li Tana, sđd, tr.208

[23] Nguyễn Tuấn Triết, “Tây Nguyên những chặng đường lịch sử văn hóa”, nxb KHXH, 2007, tr.41-46

[24] Nguyễn Tuấn Triết, sđd, tr.93

[25] Li Tana, sđd,tr.175

[26] Lê Quý Đôn, sđd, tr.206

[27] Lê Quý Đôn, sđd, tr.206-207

[28] Đỗ Bang, “Mối quan hệ giữa các phố cảng Đàng Trong với Phố Hiến thế kỷ XVII-XVIII”, in trong “Phố Hiến kỷ yếu hội thảo khoa học”, ngày 10-11/12/1992 do Sở VHTT-TT Hải Hưng ấn hành, 1994, tr.190

[29] Nguyễn Văn Chiển (cb), “Tây Nguyên các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên”, nxb Khoa học và kỹ thuật, H, 1985, tr.11 & 15

[30] Clive  J.Christie, “Lịch sử Đông Nam Á hiện đại”, nxb CTQG, H, 2000, tr.156

[31] Ấp Kiên-Thành, tức là Phú Lạc, Kiên Mỹ thuộc xã Bình Thành, quận Bình Khê (Bình Định)

[32] Tạ Chí Đại Trường, “Việt Nam thời Tây Sơn. Lịch sử nội chiến 1771-1802”, nxb CAND, 2007, tr.59-60

[33] P.Dourisboure, “Dân làng hồ”, Sài Gòn xuất bản, 1972, tr.66

[34] Đỗ Bang, “Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII”, H, 1993, tr.146 (bản lưu tại Thư viện Quốc gia)

[35] Lê Quý Đôn, sđd,  tr.115

[36] Lê Quý Đôn, sđd, tr.123

[37] Nguyễn Văn Siêu, “Đại Việt địa dư toàn biên”, Viện Sử học và nxb Văn hóa xuất bản, H, 1997, tr.332

[38] Li Tana, sđd, tr.178-179

[39] Quốc Sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, tập 3, nxb Thuận Hóa, Huế, 2006, tr.70-71 & 98-99

[40] Lê Quý Đôn, sđd, tr.345 và Li Tana, sđd, tr.180-185

[41] Li Tana, sđd, tr.147

[42] Li Tana, sđd, tr.161-162

[43] Lê Quý Đôn, sđd, tr.209-210

[44] Li Tana, sđd, tr.207

[45] Li Tana, sđd, tr.85

[46] Li Tana, sđd, tr.161

[47] Li Tana, sđd, tr.171

(Viết xong xuân 2008)

 

2 Comments

Filed under Nghiên cứu - Trao đổi

PHÁC DỰNG DIỆN MẠO THÀNH PHỐ KON TUM 100 NĂM TRƯỚC

Image

Bản đồ thành phố Kon Tum 1910-1930

ThS. Hồ Thành Tâm

ĐHQGHN

Tên gọi Kon Tum xuất hiện không muộn hơn cuối thế kỷ XIX, được dùng để đặt tên cho một làng Bahnar mới thành lập tại khu vực ven sông Đak Bla, đoạn chảy qua thành phố Kon Tum ngày nay. Câu chuyện thành lập làng này liên quan đến những mâu thuẫn nội bộ giữa những người dân làng Kontrang Or (xã Chư H’reng) dẫn đến việc một bộ phận người dân ở đây phải đi tìm nơi cư trú mới[1]. Câu chuyện dân gian này không cho phép chúng ta ước định cụ thể hơn thời điểm ra đời của Kon Tum. Đến năm 1893[2], tên gọi Kon Tum chính thức được chính quyền thực dân sử dụng khi cho thành lập Tòa đại lý Kon Tum do viên linh mục Vialleton cai quản. Trải qua một vài lần điều chỉnh địa giới hành chính, đến ngày 9-2-1913, tỉnh Kon Tum chính thức được thành lập, bao gồm ba tòa đại lý: tòa đại lý Kon Tum, toà đại lý Cheoreo và tòa đại lý Ban Mê Thuột[3]. Như vậy, vào thời điểm thành lập năm 1913, địa phận của tỉnh Kon Tum khá rộng, trải dài trên địa bàn ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đak Lac hiện nay. Phạm vi của bài viết này chỉ nhằm tập trung phác dựng lại diện mạo của khu vực thành phố Kon Tum ngày nay vào thời điểm những năm 1910-1930.

1. Đường sá

Để dễ hình dung, chúng tôi vẫn sử dụng tên gọi một số con đường lớn hiện nay, như Phan Đình Phùng, Trần Phú, Nguyễn Huệ… nhưng vào thời điểm một thế kỷ trước, các con đường chưa được đặt tên. Quốc lộ 14 đoạn chạy qua thành phố Kon Tum ngày nay vào thời điểm đó được gọi là Đường thuộc địa số 14 (Route Coloniale No 14). Đường Trần Hưng Đạo ngày nay chỉ được đặt tên Rue de la Marne muộn hơn khi Tòa giám mục được xây dựng (1933-1935).

Theo mô tả của hai tác giả Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi vào thời điểm năm 1933 thì thành phố Kon Tum lúc đó “Phố phường ở rải rác trên bốn, năm con đường”[4]. Có thể hình dung 20 năm trước đó, tình hình đường sá còn kém phát triển hơn nhiều. Thành phố có thể đã bao gồm những con đường sau đây:

Đường Phan Đình Phùng: là một đoạn của đường thuộc địa số 14 chạy qua địa phận thành phố lúc bấy giờ, đồng thời cũng là trục Bắc-Nam của thành phố. Đường 14 còn nhiều điểm chưa thông tuyến. Năm 1923, đoạn từ Buôn Mê Thuột đi Kon Tum mới được mở[5] và đường 14 phía Bắc tỉnh Kon Tum cũng chỉ được mở vào cuối năm 1930 khi chính quyền thực dân đưa những tù chính trị đang bị giam ở nhà lao Kon Tum lên làm đường ở đây[6]. Về chất lượng, đường 14 lúc này vẫn còn là đường đất, thuận tiện đi lại vào mùa khô nhưng rất khó khăn vào mùa mưa. Năm 1908, đoạn đường từ Pleiku đi Kon Tum chỉ có 54km mà phải đi hết một ngày rưỡi[7].

Về cảnh quan hai bên đường Phan Đình Phùng ngày đó, cơ bản vẫn là rừng rậm xen lẫn đồng hoang. Đoạn từ trường THCS Lý Tư Trọng đến đầu cầu Đak Bla là nơi tập trung nhà ở của các quan lại và cơ quan hành chính tỉnh[8] (khu phía Tây thành phố – theo cách gọi của Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi[9]). Khu vực ngã tư Phan Đình Phùng – Phan Chu Trinh ngày nay vào năm 1914 được phát quang để thành lập làng Trung Lương (đến nay vẫn còn di tích đình Trung Lương ở dọc ven đường Phan Đình Phùng). Từ đây đổ lên phía Bắc đều là rừng rậm. Dấu tích của các cánh rừng đó ngày trước vẫn còn nhận thấy qua những cây lớn như gốc Dong (ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Lợi), trong khuôn viên Sở Y tế, chi cục kiểm lâm. Vào thập niên 1990, khu vực ủy ban phường Quang Trung hiện nay vẫn còn sót lại nhiều cây to. Ngay ngã tư Hùng Vương – Hoàng Thị Loan trước khi được nhựa hóa vẫn còn một thân cây khá to. Tất cả các dấu tích ít ỏi còn sót lại đó, đến nay đều đã bị đốn hạ bởi tốc độ đô thị hóa ngày một cao của thành phố.

Ở đây, tôi muốn nói đôi chút về cây cầu bắc qua sông Đak Bla. Sông Đak Bla là ranh giới tự nhiên về phía Nam của thành phố. Trong một thời gian dài, quy hoạch thành phố Kon Tum chỉ loanh quanh ở bờ Bắc con sông này, còn bờ phía Nam vẫn là ruộng nương. Năm 1892, một số giáo dân làng Tân Hương đã theo linh mục Nicolas (cố Cần) sang bên kia bờ sông để lập nên làng Phương Hòa. Thoạt tiên, trên sông Đak Bla chưa có cầu, phương tiện qua sông vẫn là phà. Năm 1910, phái bộ Henri Maitre khi thực hiện chuyến khảo sát xuyên Tây Nguyên, vẫn đi qua sông Đak Bla bằng phà[10]. Tháng 6-1931, nhà đương cục lợi dụng sức lao động của các tù chính trị vừa đi làm đường từ Đak Pet về, đã có ý định bắt một chiếc cầu qua sông[11]. Công việc đang tiến hành thì bị hủy bỏ bởi các cuộc đấu tranh của tù chính trị. Vết tích hiện nay vẫn còn một mố đất cao trong khu di tích ngục Kon Tum. Phải đến một năm sau, chính quyền mới bắc được một chiếc cầu gỗ qua sông (tháng 7-1932) nhưng đến tháng 10 lại bị lũ cuốn trôi mất[12]. Việc đi lại trên sông này vẫn phải dùng phà. Ta vẫn có thể thấy được cảnh qua phà trên sông Đak Bla qua bộ phim tài liệu nổi tiếng của đạo diễn Simonnet.

Đường Nguyễn Huệ: là một trong hai con đường lớn nhất (cùng với đường Phan Đình Phùng), “sầm uất” nhất, và đồng thời là trục Đông – Tây của thành phố. Với lợi thế chạy dọc theo bờ sông Đak Bla, đường Nguyễn Huệ là nơi cư trú ưa thích của người dân đương thời. Chính ngôi làng Việt đầu tiên – làng Tân Hương (Gò Mít, Trại Lý) – được thành lập sớm nhất (năm 1874) ở dọc theo con đường này. Đường Nguyễn Huệ nối liền khu phía Tây thành phố (khu hành chính, công sở) với khu phía Đông (khu Tân Hương, Phương Nghĩa), đi ngang qua khu dân cư dọc hai ven đường. Năm 1910, khi đặt chân tới mảnh đất Kon Tum, Henri Maitre đã miêu tả cảnh quan đường Nguyễn Huệ như sau: “Khu dân cư có tên Kon Tum nằm về phía đông cánh đồng tuyệt vời Reungao; gồm những chòm xóm nối nhau chạy dài như chuỗi tràng hạt nằm hai bên con đường cái căng như kẻ chỉ giữa hai đầu khúc sông uốn cong của con sông Bla…”[13]. Đường Nguyễn Huệ là đường đất, và mặc dù là con đường “sầm uất” nhất, nhưng qua bộ phim của Pere Simonnet, cho đến những năm 1940-1950, mặt đường vẫn còn khá ghồ ghề và hẹp.

Đường Trần Phú: là con đường từ thành phố đi lên ngả Đak Cấm, nhưng con đường này có thể mở muộn hơn, vào cuối những năm 1930. Quang cảnh đường Trần Phú vẫn còn là những cánh rừng rậm rạp mà địa danh Võ Lâm có thể gợi cho ta phần nào hình dung lúc bấy giờ. Mãi đến năm 1938, khi làng Võ Lâm thành lập, nơi này mới dần có người đến ở, tuy vậy, quang cảnh vẫn còn rất hoang vu. Theo miêu tả của các giáo dân Võ Lâm đi nhà thờ Tân Hương làm lễ thì “Thời đó muốn đi lễ nhà thờ Tân Hương, phải đi bộ qua những cánh rừng xoài, mít, rừng cây… theo những con đường mòn, rất sợ hãi. Vào dịp lễ Sinh Nhựt (Giáng sinh), từ trưa phải dỡ cơm mang theo đến xin ngủ nhờ nhà người quen gần nhà thờ Tân Hương, để đến nửa đêm dự lễ Sinh Nhựt, đêm hôm đó ngủ lại đến sáng mai mới khăn gói trở về nhà. Còn học sinh đi học trường Têrêxa gần nhà thờ Tân Hương, phải đem theo cơm trưa ở lại học cho tiện, vì đường sá cách trở”[14]. Dọc đường Trần Phú hiện nay, trong khuôn viên Hội trường Ngọc Linh vẫn còn một gốc đa cổ thụ, chính là dấu tích còn lại của các cánh rừng đầu thế kỷ XX.

Đường Bà Triệu: là đường đi vào nhà thương tỉnh lúc bấy giờ. Đường Bà Triệu đoạn nối Phan Đình Phùng – Trần Phú lúc này là một con đường nhỏ chia đôi khu mả Thượng, vị trí hiện nay trụ sở Ngân hàng NNPTNT tỉnh, trung tâm triển lãm. Từ đó hắt lên phía Trần Phú là những cánh rừng của làng Võ Lâm.

2. Nhà cửa

Năm 1875. Khi viên linh mục Vialleton đang ở Kon Tum, quang cảnh thành phố lúc bấy giờ được miêu tả như sau: “Thuở ấy làng Kontum còn nhỏ, nhơn số cả đạo ngoại chừng 150, có hai nhà rông, bốn phía có rào lũy để ngữ giặc gần sát bên nhà, nên chật hẹp bẩn thỉu lắm. Chỗ ở, nhà thờ, nhà bếp cũng chung một cái nhà chật chội, su sơ”[15]. Gần 60 năm sau (1933), thành phố Kon Tum đã trở nên “đường sá rộng rải, phố xá ngay thẳng. Ban đêm đèn điện sáng choang. Quang cảnh không kém mấy thành phố ở dưới trung châu”[16].

Những hiện thực trong miêu tả của hai anh em Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi có lẽ chỉ bắt đầu sau khi thành phố Kon Tum được thành lập (ngày 3-12-1929)[17], còn đầu thập niên 1910, Kon Tum chưa hẳn đã là một nơi “đô hội lớn”.

Thành phố Kon Tum được chia thành hai khu: khu phía Tây là nơi tập trung các cơ quan hành chính và khu phía Đông là vùng tập trung sinh sống của dân cư, nhà thờ.

Về khu thứ nhất. Từ cầu Đak Bla đi lên phía Bắc, bên trái, tại khu vực bến xe cũ (nay là cây xăng dầu và Bảo tàng tỉnh) là nhà của viên Công sứ, tiếp đến là trại lính khố xanh. Cây xăng ngã ba Phan Đình Phùng – Trương Quang Trọng hiện nay là nhà của viên Giám binh. Di tích nhà ngục Kon Tum hiện nay (còn gọi là Lao ngoài) được xây dựng vào đầu năm 1931 khi chuẩn bị đưa những tù chính trị đi làm đường ở Đak Pet về[18], chứ trước đó chưa có. Tiếp tục đi lên hướng Bắc, đến ngã tư Phan Đình Phùng – Phan Chu Trinh là địa phận và khu dân cư làng Trung Lương (1914). Quá nữa là đường Bà Triệu, lối rẽ vào nhà thương tỉnh. Từ đấy trở lên là rừng. Bên phải, sau khi đi qua bến đò Đak Bla, tại vị trí khách sạn Đak Bla ngày nay là nhà viên Phó sứ. Cây xăng bên cạnh đó là Sở Bưu điện (Nhà Dây thép). Cách đấy không xa, trụ sở của Chi nhánh xăng dầu Kon Tum là nhà của viên Quản đạo. Vị trí ngày nay được xây dựng làm đài phun nước là địa điểm của nhà lao tỉnh, hay còn gọi là Lao trong, nơi giam giữ tù chính trị trước khi bị đưa đi làm đường 14. Cách đấy vài chục mét là Giọt nước phía sau lưng trường Lý Tự Trọng. Tiếp tục đi lên phía Bắc, sau khi qua khỏi địa phận làng Trung Lương là rừng và khu mả Thượng.

Về khu thứ hai. Tính từ ngã tư Phan Đình Phùng – Nguyễn Huệ đi vào, dọc hai bên đường là khu dân cư. Bên trái, tại ngã tư Nguyễn Huệ – Trần Phú là nhà thờ làng Tân Hương (1874), xa hơn một đoạn về bên phải là trường Cuénot (1908, nay là trường Cao đẳng sư phạm tỉnh) và nhà thờ gỗ (1913). Quá nữa là làng Thượng. Đường Đào Duy Từ là lối từ thành phố đi Konplong. Theo bản đồ của Ngô Đức Đệ, lộ trình từ thành phố Kon Tum đi Konplong bấy giờ như sau: từ khu Giọt nước sau lưng trường THCS Lý Tự Trọng, theo đường Nguyễn Huệ – Đào Duy Từ – quốc lộ 24 đi Konplong. Tổng chiều dài hết 38km (lúc bấy giờ không đi qua ngã Duy Tân như hiện nay vì đường này chưa được mở).

Chợ Kon Tum bấy giờ họp tại khu vực rạp 17-3 – Am Bà ngày nay. Từ đường Nguyễn Huệ đi lên đường Trần Phú, sau khi qua khỏi địa phận làng Lương Khế (1927) vẫn còn là rừng rậm.

Miêu tả con đường Nguyễn Huệ vào năm 1910, Henri Maitre viết: “Làng Go Mit chỉ là một loạt những ngôi lều ọp ẹp của người An Nam, chìm giữa những cây chuối, mít và xoài; con đường cái phủ cát trắng cắt ngang xóm làng làm hai và chạy dài chói chang dưới trời nắng; ở Rehai, trên phía bắc con đường, là nhà thờ của Cha bề trên lợp ngói đỏ; phía đằng kia bên phải, bót gác của dân binh sẽ được chuyển đến phía thượng lưu tòa đại lý; cũng ở phía đằng kia, trên hữu ngạn, trường học của hội truyền giáo, một ngôi nhà lớn lợp ngói có nhiều nhà phụ kèm theo”[19].

Như vậy, về cơ bản thành phố Kon Tum hồi 1910-1930 là tứ giác Phan Đình Phùng – Phan Chu Trinh – Đào Duy Từ – Nguyễn Huệ ngày nay.

3. Vài nét về sinh hoạt xã hội thành phố Kon Tum 1910-1930

Theo những ghi chép sưu tầm được, dân số thành phố Kon Tum năm 1884 ước khoảng 500 người, năm 1922 – 3.067 người và 1933 – 5.000 người. Như vậy, sau ½ thế kỷ, dân số thành phố tăng lên khoảng 10 lần. Tuy nhiên, đóng góp chủ yếu vào việc tăng dân số thành phố là do các luồng di dân từ đồng bằng lên sinh cơ lập nghiệp (tăng dân số cơ học) hơn là do tăng tự nhiên. Thống kê của Võ Chuẩn cho thấy, trong ba năm (1931-1933), dân số của 10 làng tổng Tân Hương thậm chí còn giảm bởi số người chết hàng năm luôn cao hơn 1,5-2 lần so với số mới sinh[20]. Võ Chuẩn cũng ghi nhận: “Trong các làng đã lập trước, nhiều chỗ nước độc địa lắm, người có chết mà không sinh ra thêm, và lắm chỗ một làng An-Nam ở giữa, còn bao nhiêu thì Mọi cả, cũng không hay gì. Như làng Phụng-sơn trên này, từ lập ra đến nay dân số 27, cứ 27; làng Ngô-trang, cách 10 năm trước nam, phụ, lão, ấu được 120, nay còn 60; làng Phước-cần ở cách làng An-Nam khác 20 cây số, dân càng ngày càng mòn chứ không thêm tên nào…”[21]. Dân số thành phố tăng chủ yếu vào thập niên cuối thế kỷ XIX do giáo dân ở đồng bằng chạy lên lánh nạn Văn Thân và vào thập niên 1920 khi ở Đông Dương rộ lên phong trào lập đồn điền trên Tây Nguyên.

Về mặt hành chính, thành phố Kon Tum tồn tại song song hai hệ thống chính quyền: của thực dân Pháp và của phong kiến Nguyễn. Về phía chính quyền thực dân, viên quan đứng đầu tỉnh là Công sứ, có toàn quyền về dân sự lẫn quân sự của một tỉnh (năm 1913, viên Công sứ Kon Tum là M. Guénot). Do địa bàn tỉnh Kon Tum rộng nên còn có một viên Phó sứ giúp việc cho Công sứ. Tỉnh Kon Tum được chia làm 5 hạt (Kon Tum, Konplong, Đak Tô, Đak Sút, An Khê), đứng đầu thành phố Kon Tum là quan đầu hạt (chef secteur)[22]. Về phía triều đình nhà Nguyễn, năm 1913, khi thành lập tỉnh Kon Tum, viên đại diện cho triều đình ở đây là một Nam Tri huyện (lúc bấy giờ là ông Phan Tử Khâm). Đến năm 1917 đổi gọi là Nam Tri phủ. Năm 1928 đặt ra đạo Kon Tum thì chức danh này gọi là Quản đạo (viên Quản đạo đầu tiên là Phùng Duy Cần). Dưới huyện là tổng do viên Chánh tổng đứng đầu. Thành phố Kon Tum lúc này có tổng Tân Hương. Dưới tổng là làng do một lý trưởng đứng đầu (hoặc đầu làng nếu là làng Thượng)[23].

Về giáo dục, ở Kon Tum tồn tại hai hệ thống trường học là trường công và trường tư. Trường công thành lập tháng 1-1916 dành cho cả người Kinh lẫn người bản địa. Đứng đầu trường công là một viên Đốc học, rồi đến Trợ giáo. Hệ thống trường tư của các cha cố ra đời sớm hơn: năm 1908, trường Cuénot thành lập dành cho cả người Kinh lẫn Thượng. Đến năm 1928, các làng Phương Nghĩa, Tân Hương, Phương Quý, Phương Hòa đều mở thêm trường và dành riêng cho người Kinh. Cấp học bao gồm sơ học và tiểu học. Ngôn ngữ sử dụng trong trường gồm tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Bahnar và tiếng Jarai[24].

Về mặt thương mại, thập niên 1910-1930, các ngành nghề ở Kon Tum hầu như không đáng kể. Đây có thể là hậu quả của chính sách hạn chế buôn bán giữa miền xuôi với Tây Nguyên hồi cuối thế kỷ XIX và tình trạng yếu kém của mạng lưới giao thông nội vùng và liên vùng. Một số người Kinh tại thành phố Kon Tum làm nghề nông (trồng lúa nước) bằng cách khai phá những vùng đất thấp, ẩm như trước cổng chùa Bác Ái ngày nay. Tuy nhiên, diện tích ruộng không nhiều. Năm 1933, thành phố chỉ có 243m2 ruộng, nên trồng lúa nước chỉ là nghề phụ. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là một số làng Bahnar đã bắt chước kỹ thuật trồng lúa nước của người Kinh và từ bỏ lối canh tác chọc lỗ tra hạt cổ truyền[25]. Có thể thấy những cánh đồng lúa nước này ở vùng Phương Hòa, Phương Quý mà đương thời người ta còn gọi là ruộng Lào.

Chợ Kon Tum là nơi tập trung buôn bán chính của thành phố, chủ yếu là các sản vật từ rừng núi và từ vườn gia đình. Các sản vật dưới đồng bằng cũng được mang lên thành phố trao đổi với người Thượng[26] và đây là một nghề “hái ra tiền”, bởi trong số các ngành nghề kinh doanh thời bấy giờ, chỉ duy nhất việc buôn bán với người Thượng là bị đánh thuế (thuế môn bài, 8,24$/năm). Việc này được T.D.N. ghi lại vào năm 1923 như sau: “Người An-Nam hay buôn bán với Mọi, mà buôn-bán cách thể này: Họ hỏi xem Mọi ưng những gì rồi họ trở xuống Hạ-châu mua lên để bán cho Mọi. Thường-thường họ đem muối, độc-bình, phóng la, nồi, đổi cho Mọi để lấy da, gạc hươu, mè, trâu bò”[27]. Võ Chuẩn viết thêm: “Song cái nghề buôn bán thịnh-hành nhất ở Kontum là nghề đi “buôn Mọi”. Người mình ở Kontum lên Mọi thì đem những đồ Mọi năng cần-dùng, như muối, vải, mền, chiêng, đồng la, nồi, ghè, hũ, vòng hột đeo cổ và đeo tay, định giá rồi lấy heo, bò, trâu, đem về bán lại. Cách buôn Mọi rất lợi, cho nên nhiều người ở Kontum làm nghề ấy lắm. Chỉ ở trong thành phố Kontum thì có đến 40 người có khai môn-bài “Đi buôn Mọi” và có chịu thuế mỗi năm là 8$24”[28].

*

*        *

Một thế kỷ trước, khi tỉnh Kon Tum được thành lập, thành phố Kon Tum còn mang dáng dấp của một tỉnh lỵ miền núi: nghèo nàn và đơn điệu, giống như tình trạng chung của các nơi khác trên Tây Nguyên. Có vẻ như thập niên 1910, vùng Tây Nguyên chưa phải là tâm điểm tập trung khai thác, đầu tư của chính quyền. Không bao lâu sau khi thành lập, tỉnh Kon Tum và cả Đông Dương thuộc địa lập tức bị cuốn vào cơn bão khốc liệt của cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918) khiến cho việc quan tâm phát triển kinh tế xã hội miền Thượng vẫn chỉ nằm bên lề của những chính sách đương thời. Tình trạng này thậm chí còn kéo dài đến giữa thập niên 1920. Henri Maitre viết: “Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, vùng Mọi bị bỏ rơi và có vẻ như chính phủ không muốn quan tâm tới nữa… những gì người ta đã làm ở Darlac, Kontum, Cambodge là kết quả của những cố gắng tản mạn, không có ý tưởng chủ đạo, không có quy hoạch chung vạch ra ngay từ đầu… Về mặt hành chính có rất ít tiến bộ…”[29]. Trong bối cảnh đó, thành phố Kon Tum (thành lập năm 1929) vẫn tồn tại một cách lặng lẽ và khép nép đứng bên lề của tiến trình phát triển. Do vậy, về mặt kinh tế, thật khó có thể nói rằng giai đoạn thành lập tỉnh Kon Tum, hay 30 năm đầu của thế kỷ XX, đã để lại những di sản gì cho các giai đoạn về sau.

Tuy nhiên, về mặt xã hội lại có nhiều điểm đáng lưu ý.

Thứ nhất, sự hình thành của thành phố Kon Tum gắn liền với sự hình thành các làng Việt đầu tiên tại đây vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Mặc dù xuất hiện muộn trên cao nguyên nhưng chính lực lượng người Kinh di cư lên Kon Tum từ cuối thế kỷ XIX mới là động lực chủ yếu khai phá và định hình nên bộ mặt của thành phố. Nếu thiếu đi vai trò của lực lượng này thì Kon Tum vẫn sẽ chìm trong tình trạng hoang sơ về mọi mặt như vốn dĩ. Khi nói đến điều này, chúng ta cần phải ghi nhận vai trò rất quan trọng của các cố đạo Pháp – những giáo sĩ nhưng đồng thời cũng là những nhà khoa học thấm nhuấn ánh sáng tiến bộ của văn minh phương Tây – trong việc dẫn dắt lực lượng giáo dân tiến hành khai phá các vùng đất hoang vu để lập nên làng Kon Tum.

Thứ hai, các làng Kinh ở Kon Tum được xây dựng bám theo ven sông Đak Bla – trung tâm của vùng đồng bằng Rơngao. Khu vực thành phố Kon Tum – tức tứ giác Phan Đình Phùng – Phan Chu Trinh – Đào Duy Từ – Nguyễn Huệ, chính là khu vực lõi mà từ đó, một thế kỷ sau mặc dù thành phố Kon Tum hiện đại phát triển rất mạnh về phía Bắc và phía Tây của tứ giác này, nhưng khu vực lõi vẫn giữ được vị thế trung tâm của mình và là nơi tập trung nhiều nhất các dấu tích thuở ban đầu.

Thứ ba, sự ra đời của tỉnh Kon Tum và thành phố Kon Tum cũng mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử vận động, tương tác giữa khối người Kinh di cư và các tộc người bản địa cùng xây dựng và phát triển mảnh đất Bắc Tây Nguyên này. Như trong câu trả lời của một người Bahnar đối với Nguyễn Đổng Chi hồi 1933[30], những người bản địa vẫn yêu mến và mong muốn hợp tác cùng người Kinh để xây dựng mảnh đất quê hương mà cả hai cùng chung sống. Mặc dù trải qua thăng trầm nhất định, nhưng tinh thần đoàn kết tương ái giữa người Kinh với các tộc người bản địa chính là di sản quý báu nhất, quan trọng nhất mà các thế hệ người Kon Tum 100 năm sau được thừa hưởng từ giai đoạn đầu tiên ấy.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi (2011), Người Bahnar ở Kon Tum, nxb Tri thức, H.
  2. Võ Chuẩn, Kontum tỉnh chí, in trong tạp chí Nam Phong, các số 191 (tháng 12-1933), 192, 193, 194, 195 (tháng 1 đến tháng 5-1934).
  3. P. Dourisboure (1972), Dân làng hồ, Sài gòn.
  4. Ngô Đức Đệ (2007), Từ Hà Tĩnh đến nhà đày Kon Tum, Bảo tàng tỉnh Kon Tum xuất bản.
  5. Lê Văn Hiến (2001), Ngục Kon Tum, Bảo tàng tỉnh Kon Tum xuất bản.
  6. Hội đồng chỉ đạo biên soạn giáo trình địa phương học tỉnh Kon Tum (1998), Kon Tum đất nước con người, nxb Đà Nẵng.
  7. Henri Maitre (1912), Les Jungles Moi, Paris: Larouse.
  8. Henri Maitre (2011), Rừng người Thượng, nxb Tri thức, H.
  9. T.D.N, Lược khảo về tỉnh Kontum, in trong tạp chí Nam Phong, phụ trương Pháp văn, số 74, tháng 8-1923.
  10. P. Ban, S. Thiệt (1933), Mở đạo Kontum, Qui Nhơn.
  11. Simonnet, Les Missionaires de Kontum.
  12. 12.            http://www.giaophankontum.net

[1] Võ Chuẩn, Kon Tum tỉnh chí, in trong tạp chí Nam Phong, số 191, tháng 12-1933, tr.530

[2] Các tác giả Võ Chuẩn, Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi đều ghi nhận sự kiện này vào năm 1893 (xem Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi (2011), Người Bahnar ở Kon Tum, nxb Tri thức, H., tr.134), trong khi các tác giả của Hội đồng biên soạn giáo trình địa phương học tỉnh Kon Tum (1998), Kon Tum đất nước con người, nxb Đà Nẵng, tr.10 lại cho rằng đó là vào năm 1892.  Ở đây chúng tôi sử dụng niên đại 1893.

[3] Hội đồng biên soạn giáo trình địa phương học tỉnh Kon Tum, sđd, tr.10-11.

[4] Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, sđd, tr.153.

[5] T. D. N, Lược khảo về tỉnh Kon Tum, in trong tạp chí Nam Phong, phụ trương Pháp văn, số 74, tháng 8-1923, tr.31.

[6] Lê Văn Hiến (2001), Ngục Kon Tum, Bảo tàng tỉnh Kon Tum xuất bản.

[7] Võ Chuẩn, sđd, tr.539.

[8] Xem bản đồ do Ngô Đức Đệ vẽ năm 1985, in trong Ngô Đức Đệ (2007), Từ Hà Tĩnh đến nhà đày Kon Tum, Bảo tàng tỉnh Kon Tum xuất bản, tr.62.

[9] Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, sđd, tr.153.

[10] Henri Maitre (1912), Les Jungles Moi, Paris: Larouse, pp.211-215.

[11] Lê Văn Hiến, sđd, tr.59-60.

[12] Võ Chuẩn, sđd, tr.544.

[13] Henri Maitre, sđd, tr.212-213.

[15] P. Ban, S. Thiệt (1933), Mở đạo Kontum, Qui Nhơn, tr.188.

[16] Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, sđd, tr.153.

[17] Võ Chuẩn, Kontum tỉnh chí, in trong tạp chí Nam Phong, số 195, tháng 5-1934, tr.304.

[18] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.96.

[19] Henri Maitre, sđd, tr.213.

[20] Võ Chuẩn, Kontum tỉnh chí, in trong tạp chí Nam Phong, số 192, tháng 1-1934, tr.32-33.

[21] Võ Chuẩn, Kontum tỉnh chí, in trong tạp chí Nam Phong, số 192, tháng 1-1934, tr.31.

[22] Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, sđd, tr.156.

[23] Võ Chuẩn, Kontum tỉnh chí, in trong tạp chí Nam Phong, số 192, tháng 1-1934, tr.31. Năm 1933, Võ Chuẩn chỉ ra có 9 chức sắc trong một làng, nhưng con số này có lẽ thay đổi theo thời gian và quy mô của từng làng. Chẳng hạn năm 1929, tổng Tân Hương có 3 chức sắc/10 làng. Điều này có thể được giải thích bởi dân số các làng ngày đó quá ít để có thể đặt ra chức dịch và viên Chánh tổng kiêm luôn quản lý các làng ấy.

[24] Võ Chuẩn, Kontum tỉnh chí, in trong tạp chí Nam Phong, số 191, tháng 12-1933, tr.540.

[25] Xem quá trình hình thành làng Jơri Kông. P. Dourisboure (1972), Dân làng hồ, Sài Gòn, tr.201-211.

[26] Danh mục tổng quan các hàng hóa tại chợ Kon Tum, xem Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, sđd, tr.148-149.

[27] T.D.N., sđd, tr.23.

[28] Võ Chuẩn, Kontum tỉnh chí, in trong tạp chí Nam Phong, số 195, tháng 5-1934, tr.255.

[29] Henri Maitre (2011), Rừng người Thượng, nxb Tri thức, H., tr.335-336.

[30] Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, sđd, tr.130-131.

Leave a comment

Filed under Nghiên cứu - Trao đổi

VAI TRÒ CỦA CÁC GIÁO SĨ TRONG CÔNG CUỘC PHÁT KIẾN MIỀN KON TUM

ThS. Hồ Thành Tâm

Đại học Quốc gia Hà Nội

Đã tròn một thế kỷ từ khi tỉnh Kon Tum được thành lập. So với các tỉnh khác trong cả nước, Kon Tum vẫn là một tỉnh trẻ trên vùng đất Tây Nguyên lâu đời. Có lẽ vì thế, nên mặc dù hiện tại Kon Tum vẫn chưa đuổi kịp nhiều địa phương khác về trình độ phát triển, nhưng sức trẻ của vùng đất giàu tiềm năng này – cả tự nhiên lẫn nhân văn – vẫn ẩn chứa những động lượng to lớn, đợi đến khi hội tụ đủ các điều kiện cần thiết – cả chính sách lẫn con người – sẽ bừng lên như núi rừng tháng 3 để bắt kịp các anh chị em khác trong đại gia đình 64 thành viên của nước Việt Nam.

Năm 2013, tỉnh Kon Tum trong không khí hân hoan đón chào một mùa xuân mới, niềm vui chung của dân tộc, thì cũng nô nức tổ chức những hoạt động trọng thể chào mừng thành phố thân yêu tròn trăm tuổi, niềm tự hào riêng của cộng đồng các dân tộc anh em vùng đất cực bắc Tây Nguyên này. Trong khi nhấn mạnh thành quả trăm năm ấy, như lời Bác Hồ dạy, chúng ta càng trân trọng công lao của các thế hệ “khai sơn phá thạch”, các bậc tiền bối đã đặt những nhát cuốc đầu tiên cày xới vùng Kon Tum trở nên màu mỡ như hôm nay. Đó là các giáo sĩ Thiên Chúa giáo, những người đầu tiên đã “loan báo Tin mừng” trên vùng đất cao nguyên hồi nửa cuối thế kỷ XIX.

1. Phát kiến Kon Tum – công lao đầu tiên của các giáo sĩ.

Cho đến thế kỷ XIX, vùng Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng vẫn còn khá “bí hiểm” trong nhận thức của người đương thời[1]. Mặc dù các khối cư dân ở đây từ rất sớm đã thiết lập những mối quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa với các khu vực xung quanh (Champa, Ai Lao, Đại Việt), thế nhưng, ngoài một vài ghi chép ít ỏi có thể tìm thấy trong các bộ sử (Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí…), người ta hầu như không biết gì thêm về diễn trình lịch sử, văn hóa… của vùng đất này. Tây Nguyên, như vậy, gần như đứng bên lề của lịch sử, một “châu Mỹ tiền Colomb”.

Kể từ phần tư thứ hai của thế kỷ XIX, chính sách của triều Nguyễn đối với công cuộc truyền đạo của các giáo sĩ phương Tây dần trở nên siết chặt hơn. Thay vì giữ một thái độ ôn hòa như Gia Long, các vị vua về sau, đặc biệt là Thiệu Trị và Tự Đức, đã ban hành nhiều chỉ dụ để hạn chế, cấm đoán và đàn áp các giáo sĩ người Pháp, kẻ mà các ông xem là phục vụ âm mưu xâm lược của Tây phương nấp sau tấm áo choàng nhà dòng, và cả các giáo dân người Việt. Kế đó, khi phong trào Cần Vương (1885-1897) bùng nổ, các giáo sĩ cũng bị đặt vào tầm ngắm của các thủ lĩnh nghĩa quân. Công cuộc truyền giáo không những bị thách thức ghê gớm mà chính bản thân các giáo sĩ cũng bị đe dọa tính mạng. Chính điều này buộc các giáo sĩ, trong khi tìm cách bảo toàn mạng sống, đồng thời nhằm duy trì và phát triển công cuộc truyền giáo, phải tìm nơi tạm lánh sự truy nã của triều đình. Tây Nguyên được nghĩ đến như một nơi lý tưởng cho các mục đích trên.

Các nỗ lực đầu tiên nhằm mở đường lên miền Thượng diễn ra vào năm 1842 do hai vị thừa sai tiên phong là Miche và Duclos theo ngả đường Phú Yên nhưng bất thành[2]. Một số cuộc thăm dò từ Quảng Ngãi và Quảng Nam cũng chịu chung số phận. Những lái buôn người Kinh thường xuyên lui tới các làng Thượng để trao đổi hàng hóa chính là mối nguy hiểm đối với các vị thừa sai. Pháp luật nhà Nguyễn trong khi đặt ra những hạn chế nghiêm ngặt đối với sự giao thương giữa người Kinh với người Thượng, thì cũng khép vào tội chết những giáo sĩ tìm cách xâm nhập lên Tây Nguyên như trường hợp hai vị Miche và Duclos kể trên[3]. Như vậy, cho đến giữa thế kỷ XIX, cánh cửa Tây Nguyên vẫn chưa được mở.

Phải đến 6 năm sau, 1848, khi vị tu sĩ Nguyễn Do (Sáu Do) tốt nghiệp khóa đào tạo tại Pinang về Gò Thị (Quy Nhơn) gặp linh mục Cuénot thì cánh cửa này mới mở ra. Trong vai đầy tớ cho một người lái buôn tên Quyền, vị Phó tế Nguyễn Do đã khai thông con đường từ An Sơn (An Khê) lên xứ Thượng và trở thành người Kinh đầu tiên đặt chân lên mảnh đất Kon Tum vào năm 1851.

Ở đây, chúng tôi muốn làm rõ thêm đôi nét về hoạt động và hành trình của vị giáo sĩ Sáu Do từ 1848 đến 1851.

Thứ nhất, thầy Sáu Do gia nhập vào đoàn tùy tùng của ông Quyền vào thời điểm nào và cùng với ông này đi buôn bán ở xứ Thượng vào lúc nào? Chúng ta đều biết khí hậu Tây Nguyên chia ra hai mùa rõ rệt: mùa mưa (khoảng tháng 5-10) và mùa khô (tháng 11-4)[4]. Hoạt động đi lại trao đổi buôn bán của các thương nhân người Kinh tại xứ Thượng do vậy cũng tuân theo nhịp điệu thời tiết này. Hồi ký của linh mục P. Dourisboure cho ta biết thầy Sáu Do xin vào giúp việc cho ông Quyền vào năm 1848 để rồi “sau một thời gian ngắn”, hài lòng với những biểu hiện của người giúp việc mới, vị lái buôn này đã thăng bậc cho thầy Sáu Do lên làm đầu bếp. Trong vai trò đầu bếp, “Đến kỳ trao đổi hàng hóa với các bộ lạc Thượng, Thầy Sáu Do, vai mang gùi chứa đựng nồi niêu chén bát, tháp tùng theo ông chủ lái buôn của mình, từ làng nầy đến làng khác”[5]. Như vậy, chuyến buôn bán đầu tiên của ông Quyền lên xứ Thượng kể từ khi có thầy Sáu Do là đầu mùa khô năm 1849, và như vậy, hẳn thầy Sáu Do đã xin vào làm cho ông Quyền từ cuối mùa mưa 1848.

Sau 6 tháng trong vai đầu bếp, thầy Sáu Do đã nắm vững địa hình, đường đi lối lại trên miền Thượng và học được một ít tiếng Bahnar, bèn trở về báo cáo với linh mục Cuénot để xúc tiến công việc. Được sự tán thành của vị linh mục này, thầy Sáu Do cùng cha Combes quay lại xứ Thượng vào đầu mùa mưa 1849. Đây là thời điểm thích hợp bởi lúc này mùa buôn bán với miền Thượng đã kết thúc, các giáo sĩ có thể tránh bị các thương nhân phát hiện, điều đã khiến hai vị thừa sai Miche và Duclos gặp nạn trước đó. Tuy nhiên, lần này đoàn chưa lường hết những khó khăn to lớn do mùa mưa Tây Nguyên gây ra nên buộc phải quay về giữa chừng đợi thời cơ khác[6].

Thứ hai, địa điểm xa nhất mà thầy Sáu Do, trong vai đầu bếp, đã đặt chân đến là nơi nào? Theo mô tả của Dourisboure, các đoàn thương lái người Kinh, sau khi đóng thuế môn bài, được tự do đi lại giữa các làng Thượng trên Tây Nguyên để trao đổi hàng hóa, trừ việc định cư tại đây[7]. Tuy thế, vẫn còn những khu vực quá xa mà các đoàn buôn chưa đặt chân đến, kể cả anh đầu bếp Sáu Do. Làng Kon Phar chính là cột mốc của khu vực đó[8]. Kon Phar cách Kon Kơlang một ngày đường đi bộ[9]. Kon Kơlang, theo khảo sát của tác giả Nguyễn Thị Kim Vân, nay thuộc xã Hà Tây, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai[10]. Như vậy, có thể chỉ ra một cách tương đối, vị trí xa nhất thầy Sáu Do đến được trong vai viên đầu bếp là vùng núi Hàm Rồng, hay vùng phía nam huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai hiện nay.

Khảo sát lộ trình của đoàn Dourisboure: khởi hành từ Gò Thị vào ngày 11-11-1850 cùng với cha Desgouts và cha Thám, đi ba ngày đến Trạm Gò (xã Cửu An, huyện An Khê), đi tiếp hai ngày đến làng Baham. Tại đây, đoàn đã gặp thầy Sáu Do từ làng Kon Phar đến đón. Từ làng Baham đến làng Bơlu hết một ngày, tức ngày 23-12 và đón Giáng sinh tại đây. Từ Bơlu đi tiếp đến Kon Phar thêm 2 ngày đường, tức ngày 2-1-1851, đi bộ một ngày nữa đến Kơlang và thêm một ngày nữa đến Kon Kơxâm (nay là Kon Bah, xã Hà Tây, huyện Chư Pah)[11]. Sau vài tháng ổn định tại Kon Kơxâm, đoàn đã tìm cách theo dòng sông Đak Bla đến Plei Rơhai (vùng Tân Hương, thành phố Kon Tum ngày nay), phát kiến ra miền Kon Tum vào giữa năm 1851.

Như vậy, cho đến trước năm 1851, Kon Tum vẫn là vùng đất chưa có người Kinh nào lui tới, trong khi Pleiku đã được đặt vào phạm vi buôn bán của các đoàn lái buôn. Chính vì tính chất xa xôi, hiểm trở như vậy mà Kon Tum mới được chọn là nơi thiết lập căn cứ truyền giáo đầu tiên trên Tây Nguyên. Việc phát kiến ra vùng đất Kon Tum của các giáo sĩ đã khơi mào cho một loạt những biến đổi sâu sắc, to lớn về nhiều phương diện trong các giai đoạn lịch sử của tỉnh này về sau. Do vậy, năm 1851, theo chúng tôi, cần được xem là thời điểm có vị thế đặc biệt quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Kon Tum. Vị Phó tế Nguyễn Do, người Kinh đầu tiên đặt chân đến mảnh đất này, chính là một “Yersin của Kon Tum”, để từ đó hơn một thế kỷ sau, chúng ta có dịp kỷ niệm Kon Tum tròn 100 tuổi.

2. Các giáo sĩ góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Kon Tum.

Theo chúng tôi, đây chính là hệ quả quan trọng nhất mà các thế hệ người Việt Nam đương đại được thừa hưởng từ phát kiến Kon Tum của thầy Nguyễn Do.

Một số tác giả cho rằng, khu vực Tây Nguyên đã thống thuộc vào bản đồ Đại Việt kể từ năm 1471 khi Lê Thánh Tông đánh bại và sáp nhập lãnh thổ Champa vào vương quốc của mình. Theo chúng tôi, đây là một kết luận chủ quan, khiên cưỡng gán cho Kon Tum lịch sử lâu đời song hành cùng dân tộc, lấy cái chung che lấp cái riêng mà bỏ qua tính chất đặc thù của từng khu vực riêng biệt. Như đã trình bày, trước năm 1471, Tây Nguyên chỉ là một khu vực nằm trong phạm vi ảnh hưởng của vương quốc Champa. Uy quyền của một số vị vua Chăm có thể lan tỏa lên đây nhưng sự ràng buộc giữa cộng đồng các tộc người Trường Sơn-Tây Nguyên với nhà nước Champa chỉ ở một mức độ nhất định[13]. Năm 1471, vó ngựa của Lê Thánh Tông dừng lại ở chân núi Thạch Bi (Phú Yên). Ông sáp nhập phần lớn lãnh thổ Champa vào Đại Việt và đồng thời, đặt ra hai nước Nam Bàn và Hoa Anh làm vùng đệm giữa phần lãnh thổ mới của Đại Việt với bộ phận người Chăm còn sót lại ở Panduranga (phía nam Đèo Cả ngày nay). Nam Bàn chính là vùng Cheoreo và về sau cũng chia làm hai “nước” Thủy Xá và Hỏa Xá mà sử sách nhà Nguyễn còn ghi chép lại[14].

Ở đây chúng tôi xin lưu ý rằng, năm 1471, Lê Thánh Tông lập trên khu vực Tây Nguyên nước Nam Bàn, tức một quốc gia mới và khác với Đại Việt, không phụ thuộc vào Đại Việt về mặt hành chính, cho dù nó có thể thuần phục quyền lực Đại Việt. Điều này khác hoàn toàn với việc thành lập ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, vốn là đất thôn tính trở thành bộ phận lãnh thổ trực tiếp của Đại Việt lúc bấy giờ. Do vậy, cho rằng Tây Nguyên đã được sáp nhập vào Đại Việt từ năm 1471 là không chính xác. Thậm chí cho đến cuối thế kỷ XIX, Tây Nguyên tuy đã trở thành một bộ phận của Việt Nam nhưng nhà Nguyễn vẫn chưa thể thiết lập sự quản lý trực tiếp, chặt chẽ lên khu vực này. Thông thường, các quan lại ở Quảng Ngãi như Bùi Tá Hán, Nguyễn Quỳnh… sẽ kiêm quản lý “từ xa” khu vực người Thượng. Bằng cách này hay cách khác, triều đình thu phục các thủ lĩnh địa phương để thông qua họ nắm lấy vùng này. Đây có thể xem là một sự “ủy trị”, chính sách mà hầu hết các triều đại phong kiến trước Nguyễn đều sử dụng để quản lý miền núi xa xôi.

Tại Tây Nguyên, bên cạnh những ông Vua Nước, Vua Lửa ta còn bắt gặp một nhân vật tương tự là Bok Khiêm[12], người nhận được sự công nhận của Huế, thay mặt nhà Vua cai quản vùng Thượng. Theo miêu tả của P. Dourisboure thì Bok Khiêm là “một dân tộc người Ba-na mà danh tiếng lan tràn khắp xứ. Đi đến đâu, Ông cũng được tôn kính vinh dự… Ưu thế của Ông lại được chính thức thừa nhận: các quan lại ở Đồng bằng, để lấy lòng và lợi dụng uy tín của Ông, đã vận động Triều đình Huế ân thưởng cho Ông một bằng cấp, qua đó nhìn nhận Ông là lãnh tụ của tất cả dân Thượng và gia phong cho Ông chức đại diện của Vua An Nam nơi miền Thượng du”[13].

Chính sự cai trị lỏng lẻo này của triều đình Huế và cả chính quyền đô hộ thực dân đã khiến khu vực Tây Nguyên trong một thời gian dài, rơi vào tình trạng hỗn loạn đến cực độ bởi tệ chiến tranh cướp bóc nô lệ diễn ra liên miên giữa các bộ lạc Thượng và nguy hiểm hơn là ý đồ lãnh thổ của nước Xiêm đối với khu vực này[14]. Dưới thời trị vì của vua Chulalongkorn (1873-1910), Xiêm là một quốc gia khá hùng mạnh trong khu vực và đã có những tranh chấp với Pháp về chủ quyền ở khu vực trung lưu sông Mékong[15]. Năm 1886, người Xiêm yêu cầu một đường biên giới chung với Đông Dương thuộc Pháp mà theo đó, vùng Kon Tum, toàn bộ lưu vực sông Sésan và phần lớn lưu vực sông Srépok trở thành lãnh thổ thuộc Xiêm[16]. Một vài vụ xung đột giữa hai bên đã nổ ra tại khu vực tranh chấp này[17].

Phát kiến của cha Nguyễn Do đã mở đường Kon Tum cho các giáo sĩ Pháp, đồng thời cũng là những nhà khoa học, có đầu óc tổ chức và, điều này rất quan trọng, được sự ủng hộ của quân đội Pháp, để đối phó với những cuộc hành quân lấn chiếm của người Xiêm. Một trong những vị giáo sĩ có công đầu trong việc này đó là cha Guerlach (Cảnh). Cha Guerlach đến Kon Tum ngày 8-1-1883, nơi ông đã gây được uy tín lớn khi tổ chức người Bahnar chống lại những cuộc cướp bóc thường xuyên của các bộ lạc Jarai vào năm 1888[18].

Để đối phó với mưu đồ lãnh thổ của người Xiêm, chính phủ Pháp đã quyết định thực hiện một loạt các cuộc thám sát nhằm đo đạc, vẽ bản đồ vùng lưu vực sông Mékong và trung Đông Dương, về sau trở nên nổi tiếng với tên gọi Phái bộ Pavie (1879-1895). Các chuyến khảo sát tại khu vực Kon Tum lúc này do viên đại úy Cupet đảm nhận (1891)[19]. Để thực hiện nhiệm vụ, Cupet đã tìm kiếm sự giúp đỡ từ hội truyền giáo Kon Tum.

Sự giúp đỡ của cha Guerlach và hội truyền giáo Kon Tum đối với sứ mệnh của Cupet thể hiện ở ba điểm sau:

–   Hỗ trợ hậu cần: trung úy Dugast, một thành viên của nhóm Cupet, trong khi từ An Khê lên Kon Tum đã buộc phải bỏ lại hành lý do các phu của ông bỏ trốn. Những tổn thất này đã được hội truyền giáo Kon Tum tái trang bị cho đoàn.

–   Cung cấp thông tin và dẫn đường: các giáo sĩ có nhiều năm hoạt động truyền giáo ở vùng Kon Tum, nắm được nhiều thông tin quan trọng. Chính họ đã giúp Cupet nhận ra tầm quan trọng chiến lược của vùng đồng bằng Reungao “một mặt nó khống chế Attopeu, một mặt khác lại khống chế vùng người Jarai và các lối dẫn tới sông Srépok” để đưa tới việc lấy nơi đây làm căn cứ hành quân[20]. Hội truyền giáo còn cho phái đoàn mượn đoàn voi – phương tiện vận chuyển thuận tiện và quý báu trong các chuyến khảo sát[21].

–   Phối hợp hành quân: Henri Maitre chỉ ra một số cuộc hành quân của Cupet có sự tham gia của cha Guerlach vào tháng 4-1891 đã đẩy lùi được sự chiếm đóng của người Xiêm tại Dak Réde (?)[22].

Cả Cupet lẫn Henri Maitre đều đánh giá rất cao tác dụng của sự giúp đỡ của hội truyền giáo Kon Tum và sự tận tâm của cha Guerlach: “Người Xiêm hoàn toàn thất bại; hoạt động của các sĩ quan chúng ta, sự tận tụy của Cha Guerlach, sự hỗ trợ tinh thần và vật chất của hội truyền giáo Kontum đã ngăn chặn sự chiếm đóng thực tế vùng hinterland; mối hiểm nguy đè nặng lên các làng Mọi uy hiếp và sẵn sàng chiến đấu, được xua tan…”[23].

Như vậy, trong bối cảnh tranh chấp Pháp – Xiêm về mặt biên giới vùng trung lưu Mékong, các giáo sĩ thuộc hội truyền giáo Kon Tum đã có những đóng góp nhất định giúp bảo toàn được vùng Kon Tum vẫn thuộc phạm vi Đông Dương thuộc Pháp để rồi về sau này, trở thành một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam. Ghi nhận công lao này của các giáo sĩ, chúng ta lại càng trân trọng thêm hành trình không quản ngại gian khổ của thầy Sáu Do, người đã mở đường cho các thế hệ giáo sĩ tiếp theo lên khai phá Kon Tum.

3. Các giáo sĩ truyền bá văn hóa phương Tây tại Kon Tum.

Văn hóa bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa phi vật chất. Ở đây chúng tôi muốn đề cập đến những thành tựu văn hóa phi vật chất trước.

Trước hết và hết sức quan trọng chính là các giáo sĩ đã xây dựng được bộ chữ viết Bahnar để rồi từ việc biết chữ, các yếu tố văn hóa khác mới phát huy được sức ảnh hưởng của chúng đối với vùng Thượng. Người Bahnar vốn không có chữ viết mà họ lý giải bởi tổ tiên ngày xưa mải mê uống rượu say đến mức làm mất cả giấy bút[24]. Điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho các vị giáo sĩ như P. Dourisboure… khi mới đặt chân đến đây, tìm cách hội nhập với cộng đồng và truyền bá tư tưởng của mình. Để khắc phục khó khăn này, các vị thừa sai như Dourisboure, Combes, Fontain đã sử dụng hệ chữ cái latin để ghi âm tiếng Bahnar. Dourisboure thuật lại cách các ông làm việc như sau: “Sáng sớm và chiều tối, thời gian duy nhất trong ngày mà anh em Thượng rảnh rang ở nhà, chúng tôi lên nhà rông học hỏi năm ba từ. Mỗi người cầm tay khúc bút chì và một mảnh giấy, và vừa khi mà mình tưởng đã nắm được ý nghĩa của một tiếng, liền vội vã ghi vào. Đến lúc anh em Thượng đã đi rẫy hoặc đi ngủ, thì ba chúng tôi tụ họp lại, so sánh những điều đã ghi chú, và đúc kết lại những điều mà chúng tôi đã học được hoặc tưởng là đã học được. Chúng tôi hay hỏi ông Hmur nhiều nhất, ông thường thức với chúng tôi rất khuya. Trong ngày thì chúng tôi lẩm bẩm, bắt trí nhớ tiếp nhận những từ ngữ thâu thập được hôm trước, và ngày nào cũng vậy cả. Sau một tháng rưỡi ở nhà ông Hmur, chúng tôi đã ghi được một quyển sổ bự những từ là từ…”[25]. Công trình này về sau được cha Dourisboure hoàn thiện và cho xuất bản tại Hongkong vào năm 1885, vài năm trước khi ông qua đời (1890).

Mặc dù chữ viết Bahnar được làm ra với mục đích ban đầu nhằm giúp các giáo sĩ tiếp cận và truyền bá tư tưởng Thiên Chúa giáo đối với người Bahnar nhưng điều đó cũng không phủ nhận được tầm quan trọng hàng đầu của phát minh này và vai trò của chữ Bahnar cho đến tận hôm nay. Giống như Marx nói, đó là một “công cụ vô ý thức của lịch sử”. Chỉ riêng với công trạng này cũng đã đủ để Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi thốt lên trong tác phẩm để đời của mình rằng: “Cái công nghiệp khai hóa của cố Dourisboure lớn lao biết là dường nào!”[26]. Kể từ đây, người Bahnar được vinh dự là một trong những dân tộc đầu tiên ở Tây Nguyên có chữ viết. Đánh giá bộ chữ viết Bahnar, tác giả Trần Trí Dõi trong công trình của mình[27] cũng nhận xét đấy là một bộ chữ khoa học, thuận tiện, trong khi những bộ chữ của một số dân tộc được xây dựng về sau này vẫn cần phải tiếp tục hoàn thiện.

Từ việc xây dựng bộ chữ viết Bahnar, các giáo sĩ đã tiến tới việc thành lập các trường học (trường dòng), mô hình giáo dục tập trung tiến bộ đầu tiên xuất hiện trên cao nguyên. Cuối những năm 1890, các giáo sĩ đã thành lập một số trường để dạy giáo lý cho người địa phương nhưng không đạt nhiều hiệu quả. Năm 1906, trường Cuénot được mở theo hình thức nội trú và dần thu hút nhiều học trò[28]. Đến năm 1928, lần lượt các làng Phương Nghĩa, Tân Hương, Phương Quí, Phương Hòa cũng được mở và chiêu sinh. Trường công xuất hiện từ năm 1916[29]. Đến năm 1933, tổng số học sinh của hai loại trường này là 589 người[30]. Về hình thức, các trường gồm cả nội trú (thường dành cho học trò Thượng) và ngoại trú (học trò người Kinh). Ngôn ngữ sử dụng trong trường là tiếng Pháp, tiếng Việt, tiếng Bahnar và tiếng Jarai. Các trường gồm hai bậc học là sơ học và tiểu học.

Mục đích thành lập trường học của các giáo sĩ là nhằm truyền bá Thiên Chúa giáo nhưng việc này cũng có những nét tích cực. Thứ nhất, đây là lần đầu tiên tại Kon Tum xuất hiện mô hình giáo dục tập trung tiến bộ như vậy. Thứ hai, cho dù phần lớn nội dung học tập là thần học, nhưng với truyền thống đào tạo bài bản của mình, và mặt khác các giáo viên cũng đồng thời là những nhà khoa học Tây phương, đã giảng dạy cho học sinh những tư tưởng khoa học nhất định. Thứ ba, các ngôi trường này đã dạy ngôn ngữ bản xứ cho chính người bản xứ, giúp họ làm chủ ngôn ngữ của mình, tạo nên một lớp trí thức chưa từng có trong lịch sử hàng ngàn năm sống trong rừng rậm của người Tây Nguyên.

Một thành tựu quan trọng khác của các giáo sĩ, đồng thời cũng là mục đích chính của họ khi lên Tây Nguyên, đó là đã truyền bá thành công Thiên Chúa giáo, một tôn giáo mới mẻ, mang nhiều tư tưởng tiến bộ, góp phần làm phong phú bức tranh văn hóa, tôn giáo ở Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng. Trước khi Tin mừng loan tới, Tây Nguyên và Kon Tum là mảnh đất của hàng tá các vị Yang, nơi con người tỏ ra khiếp nhược và quy phục trước những hiện tượng tự nhiên mà họ không tài nào hiểu nổi. Gắn với tín ngưỡng đa thần này là các hủ tục ma lai, bơdâu… nhiều khi đã làm hại không biết bao nhiêu cuộc đời vô tội, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống cộng đồng. Các giáo sĩ, trong khi thuyết phục người dân cải đạo theo Thiên chúa giáo, đồng thời cũng góp phần hạn chế một số hủ tục lâu đời. Với hoạt động tích cực của các giáo sĩ, Thiên chúa giáo đã tỏ ra là một tôn giáo có sức hút mạnh. Năm 1918, tức gần 7 thập niên kể từ khi những giáo sĩ đầu tiên đặt chân tới Kon Tum, 7% dân số ở đây đã cải theo Thiên chúa giáo.

Tiếp đến là những di sản văn hóa vật chất mà rất dễ nhận thấy hiện nay chính là các công trình kiến trúc còn sót lại từ những ngày đầu mở đạo, xếp theo thứ tự thời gian là trường giáo phu Cuénot (1906), nhà thờ gỗ (1913-1918) và Tòa giám mục Kon Tum (1935-1938)[31].

Trường giáo phu Cuénot được xây dựng năm 1906, lấy tên đức cha Cuénot (Thể), đại diện tông tòa, cai quản địa phận Đông Đàng Trong, người đã cử cha Do mở đường lên miền Kon Tum hồi 1848. Ban đầu, trường chỉ dành cho học sinh nam người Thượng và cả người Kinh, về sau chỉ còn dành riêng cho nam học sinh Thượng. Đây là trường dòng, đào tạo các giáo phu Thiên chúa giáo. Về sau, trường Cuénot được trưng dụng thành trường Cao đẳng sư phạm tỉnh. Hiện tại, tòa nhà chính của trường Cuénot vẫn còn được bảo tồn khá nguyên vẹn.

Nhà thờ gỗ là một công trình kiến trúc tôn giáo-nghệ thuật độc đáo vào bậc nhất Tây Nguyên và cả nước, là thắng cảnh nổi tiếng mà bất cứ ai đặt chân đến Kon Tum đều dành thời gian đến chiêm ngưỡng. Trước khi nhà thờ này được xây dựng, tại đây có hai nhà thờ khác bằng tre nứa nhưng đã bị hỏa hoạn phá hủy. Cha Joseph Décrouille (Đệ) đã vận động xây dựng một nhà thờ mới theo thiết kế của cha Kemlin. Trải qua 5 năm xây dựng (1913-1918), ngày 6-1-1918, nhà thờ chánh tòa giáo phận Kon Tum (tức nhà thờ gỗ) chính thức được khai trương[32].

Tòa giám mục cũng là một công trình kiến trúc tôn giáo-nghệ thuật độc đáo khác. Tòa được xây dựng vào năm 1933, một năm sau khi địa phận Kon Tum được tách khỏi giáo phận Quy Nhơn để trở thành giáo phận độc lập, bao gồm bốn tỉnh (Kon Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuột và Attopeu). Quá trình xây dựng Tòa giám mục kéo dài trong hai năm dưới sự chỉ đạo của linh mục Martial Jannin (Phước), giám mục đại diện tông tòa đầu tiên ở Kon Tum[33].

Những di sản của lớp giáo sĩ đầu tiên tiếp tục được bồi đắp, bổ sung theo thời gian và trở thành niềm tự hào của các thế hệ người Kon Tum ngày nay.

4. Các giáo sĩ đã đặt nền móng cho sự thành lập thành phố Kon Tum.

Mặc dù đã ký hiệp định 1893 với Xiêm, khẳng định chủ quyền của Pháp tại trung lưu sông Mékong nhưng có vẻ như người Pháp vẫn còn khá bối rối trong việc phân chia địa giới hành chính các tỉnh tại khu vực này. Cho nên, người Pháp tuy nổi tiếng bởi cung cách làm việc khoa học bài bản (cho đến hiện nay chúng ta về cơ bản vẫn kế thừa địa giới hành chính các địa phương do người Pháp hoạch định), vậy mà chỉ trong hai thập niên (1893-1913), địa giới hành chính tỉnh Kon Tum đã phải điều chỉnh đến ba lần trên quy mô lớn.

Năm 1893, Pháp lập Tòa đại lý hành chính (ĐLHC) Kon Tum (chưa bao gồm Cheoreo và An Khê) thống thuộc tỉnh Attopeu (Lào). Năm 1904, tỉnh Pleiku Derr được thành lập thì tòa ĐLHC Kon Tum được tách khỏi Lào để nhập vào tỉnh Pleiku Derr. Ít lâu sau (1907), tỉnh này bị bãi bỏ thì tòa ĐLHC Kon Tum phụ thuộc vào Bình Định. Năm 1913, tòa này lại được tách khỏi Bình Định để lập tỉnh mới – tỉnh Kon Tum – lúc này bao gồm cả Cheoreo, An Khê, Buôn Ma Thuột và Pleiku. Đó là chưa kể đến những thay đổi khác về sau[34].

Có một điều khiến chúng tôi chú ý ở đây là tại sao người Pháp lại quyết định thành lập tòa ĐLHC Kon Tum bấy giờ gồm những địa bàn như vốn dĩ. Điều này có thể được giải thích bởi: người Pháp lúc này đang mải đối phó với những cuộc nổi dậy ở vùng đồng bằng nên chưa rảnh tay để tổ chức một bộ máy hành chính chặt chẽ ở đây. Mặt khác, giới thực dân chưa có điều kiện điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng vùng Tây Nguyên trong khi các giáo sĩ Pháp lên đây từ sớm, am hiểu địa hình, phong tục người bản xứ. Vậy là diễn ra một cái bắt tay giữa giới thực dân với các giáo sĩ: địa giới của giáo phận đồng thời được sử dụng làm địa giới hành chính, một sự chồng khớp giữa “địa giới hành chính nước Chúa” với địa giới hành chính thuộc địa. Chính vì vậy, địa giới tỉnh Pleiku Derr về cơ bản trùng khớp với địa giới giáo phận Kon Tum (gồm Kon Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuột và Attopeu). Điều này cũng lý giải tại sao từ 1893-1904, các cha cố ngoài việc lãnh đạo giáo phận cũng đồng thời thay mặt nhà chức trách của chính quyền thực dân tại đây[35].

Thành phố Kon Tum hiện nay cũng được xây dựng trên khu vực khai phá cánh đồng Reungao của các cha cố.

Làng Kon Tum hẳn đã xuất hiện trước khi các giáo sĩ đặt chân đến đây (1851), vậy mà hơn 20 năm sau (1875), diện mạo của nó vẫn nguyên sơ và chật chội như bao làng Thượng khác: “Thuở ấy làng Kon-tum còn nhỏ, nhơn số cả đạo ngoại chừng 150, có hai nhà rông, bốn phía có rào lũy để ngữ giặc gần sát bên nhà, nên chật hẹp bẩn thỉu lắm. Chỗ ở, nhà thờ, nhà bếp cũng chung một cái nhà chật chội su sơ”[36].

Sau một thời gian lưu trú tại Kon Kơxâm, các giáo sĩ nhận thấy đấy không phải là nơi phát triển về lâu dài, nên đã quyết định di chuyển lên hướng bắc, khai thác vùng đồng bằng màu mỡ dọc hai bên sông Đak Bla. Làng Jơri Kông được thành lập (1866)[37] mở đầu cho việc thành lập một loạt làng công giáo mới như Tân Hương (1874), Phương Nghĩa (1882), Phương Quí (1887), Phương Hòa (1892)… Năm 1913, khi tỉnh Kon Tum ra đời, khu vực thành phố Kon Tum ngày nay bao gồm hai làng Tân Hương và Phương Nghĩa; đến năm 1913 khi lập thành phố Kon Tum thì tăng lên bốn làng (thêm hai làng Trung Lương 1914 và Lương Khê 1927). Dân thành phố ban đầu là những người theo giúp các cha cố lập làng mới[38]. Hai làng Trung Lương và Lương Khê là do người dân từ đồng bằng di cư lên sinh sống và lập ra. Có an cư mới lạc nghiệp, sinh tụ tại vùng đồng bằng lý tưởng này, các giáo sĩ đã tổ chức cho người Bahnar tập làm ruộng nước, từ bỏ lối chọc lỗ tra hạt truyền thống. Vì vậy cho nên năm 1933 khi lên Kon Tum, hai anh em Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi nhìn thấy cảnh những người Thượng cũng biết làm ruộng nước thì tấm tắc khen đây quả là nơi “đô hội lớn”. Vùng lõi của thành phố Kon Tum ngày nay được định hình bởi tứ giác Phan Đình Phùng – Phan Chu Trinh – Đào Duy Từ – Nguyễn Huệ, chính là khu vực trù phú nhất của đồng bằng Đak Bla hay cánh đồng Reungao mà hơn một thế kỷ trước, các giáo sĩ đã phát hiện và tốn không ít công vun xới.

*

*                 *

Vai trò của các giáo sĩ trong việc phát kiến ra miền Kon Tum, như trên đã trình bày, theo chúng tôi là cực kỳ quan trọng. Chính họ đã đặt nền móng hết sức cơ bản cho sự hình thành và phát triển của tỉnh Kon Tum đến ngày nay. Những di sản mà các giáo sĩ ngày ấy để lại cho các thế hệ người Kon Tum đương đại (chữ viết Bahnar, Thiên chúa giáo, vùng lõi của thành phố Kon Tum, nhà thờ gỗ…) chính là những giá trị tiêu biểu đã làm nên một “bản sắc Kon Tum” có những nét độc đáo riêng, một “dòng riêng” giữa “nguồn chung” văn hóa Tây Nguyên.

Hơn 100 năm trước, khi phát hiện ra cao nguyên Lang Biang, hẳn vị bác sĩ người Pháp Yersin cũng không ngờ rằng mình sẽ được người dân của chính vùng đất đó, 100 năm sau, tạc tượng đề danh. Đó là bởi truyền thống “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” cao quý của người Việt Nam vốn vượt lên trên ranh giới chủng tộc và biên giới quốc gia. Vậy thì, tại Kon Tum, thiết tưởng cũng rất nên có một bức tượng của cha Nguyễn Do được đặt tại vị trí trang trọng và một con đường mang tên ông để bày tỏ tấm lòng biết ơn của các thế hệ người Kon Tum hiện tại và sau này đối với người đã có công phát kiến ra vùng đất Kon Tum và cũng là để tuân theo đúng truyền thống tốt đẹp kể trên của dân tộc ta.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. D. G. E. Hall (1997), Lịch sử Đông Nam Á, nxb Chính trị quốc gia, H.
  2. Henri Maitre (2008), Rừng người Thượng, nxb Tri thức, H.
  3. Hội đồng biên soạn giáo trình địa phương học tỉnh Kon Tum (1998), Kon Tum đất nước con người, nxb Đà Nẵng.
  4. Jacques Dournes (2013), Potao một lý thuyết về quyền lực ở người Jorai Đông Dương, nxb Tri thức, H.
  5. Lương Ninh (2004), Lịch sử vương quốc Champa, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  6. Nam Phong tạp chí số 191 (12-1933), 192 (1-1934).
  7. Ngô Đức Đệ (2007), Từ Hà Tĩnh đến nhà đày Kon Tum, Bảo tàng tổng hợp tỉnh Kon Tum xuất bản.
  8. Nguyễn Thị Kim Vân (2010), Địa danh và di tích Gia Lai từ góc nhìn lịch sử – văn hóa, nxb Khoa học xã hội, H.
  9. Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi (2011), Người Bahnar ở Kon Tum, nxb Tri thức.
  10. Nguyễn Văn Chiển (cb) (1985), Tây Nguyên điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiện nhiên, nxb Khoa học và Kỹ thuật, H.
  11. P. Ban, S. Thiệt (1933), Mở đạo Kontum, Qui Nhơn.
  12. P. Dourisboure (1972), Dân làng hồ, Sài Gòn.
  13. Trần Trí Dõi (1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  14. http://giaophankontum.com
  15. http://danlangho.multiply.com

[1] Thậm chí, cho đến giữa thế kỷ XX, đối với nhiều người, Tây Nguyên vẫn là khu vực “rừng thiêng nước độc”, “dễ đi khó về”. Những tên gọi, địa danh… bằng tiếng địa phương thường gợi cho người nghe cảm giác bí hiểm của một thời xa xưa nào đó.

[2] Jacques Dournes (2013), Potao một lý thuyết về quyền lực ở người Jorai Đông Dương, nxb Tri thức, H., tr.34-36.

[3] Hai vị thừa sai này bị giải về Huế. Trong khi đang chờ ngày hành quyết thì họ được một chiến hạm của Pháp đến giải cứu kịp thời.

[4] Diễn biến từng mùa có thể chênh lệch nhau một/một vài tháng tùy từng khu vực của Tây Nguyên. Tại An Khê, mùa mưa diễn ra chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10 với hơn 70% tổng lượng mưa cả năm. Nguyễn Văn Chiển (cb) (1985), Tây Nguyên điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, nxb Khoa học và Kỹ thuật, H., tr.113.

[5] P. Dourisboure (1972), Dân làng hồ, Sài Gòn, tr.9.

[6] P. Dourisboure, sđd, tr.13-14.

[7] P. Dourisboure, sđd, tr.7.

[8] P. Dourisboure, sđd, tr.16.

[9] P. Dourisboure, sđd, tr.22.

[10] Nguyễn Thị Kim Vân (2010), Địa danh và di tích Gia Lai từ góc nhìn lịch sử – văn hóa, nxb Khoa học xã hội, H., tr.141.

[11] Nguyễn Thị Kim Vân, sđd, tr.80.

[12] Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi cho biết cụ thể hơn. Bok Khiêm còn được gọi là Bok Piơm, được triều đình Huế công nhận vào năm 1840 (Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi (2011), Người Bahnar ở Kon Tum, nxb Tri thức,H., tr.133-134). Hiện nay vẫn còn pơlei Piơm thuộc thị trấn Đăk Đoa (Nguyễn Thị Kim Vân, sđd, tr.136).

[13] P. Dourisboure, sđd, tr.17.

[14] Henri Maitre (2008), Rừng người Thượng, nxb Tri thức, H., tr.242-252.

[15] D. G. E. Hall (1997), Lịch sử Đông Nam Á, nxb Chính trị quốc gia, H., tr.987-1006.

[16] Henri Maitre, sđd, tr.297.

[17] Henri Maitre, sđd, tr.303-317.

[18] Henri Maitre, sđd, tr.299.

[19] Chi tiết về cuộc khảo sát của Cupet xem Jacques Dournes, sđd, tr.51-58.

[20] Henri Maitre, sđd, tr.306.

[21] Cuốn sách của Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi khi tái bản đã được bổ sung một số hình ảnh, trong đó có ảnh đoàn voi của Hội truyền giáo Kon Tum vào khoảng năm 1890. Có thể đây chính là đoàn voi đã cho đoàn khảo sát của Cupet mượn. (Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, sđd, tr.117).

[22] Henri Maitre, sđd, tr.308-310.

[23] Henri Maitre, sđd, tr.310.

[24] Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, sđd, tr.239.

[25] P. Dourisboure, sđd, tr.56-57.

[26] Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, sđd, tr.240

[27] Trần Trí Dõi (1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.252.

[28] Nam Phong tạp chí, số 191, tháng 12-1933, tr.540.

[29] Không rõ ngôi trường công này nằm tại địa điểm nào. Bản đồ do cụ Ngô Đức Đệ vẽ năm 1985 cho biết hồi năm 1930-1934 có một ngôi trường học tại vị trí gần rạp 17-3 ngày nay (Ngô Đức Đệ (2007), Từ Hà Tĩnh đến nhà đày Kontum, Bảo tàng tổng hợp Kon Tum xuất bản, tr.62). Khu chợ bên cạnh rạp 17-3, vào thời sau 1954, được gọi là khu Liên kế và có một ngôi trường tên là trường Ngô Đình Khôi. Chúng tôi băn khoăn liệu trường Ngô Đình Khôi, ngôi trường trong bản vẽ của cụ Ngô Đức Đệ và ngôi trường công của Pháp hồi năm 1916 có phải chung một địa điểm hay không.

[30] Nam Phong tạp chí, số 192, 1-1934, tr.23-24.

[31] Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến những di sản tiêu biểu, trong tầm hiểu biết của mình.

[32] Quá trình xây dựng nhà thờ gỗ xem http://giaophankontum.com

[33] Trong khuôn viên Tòa giám mục, từ lối cổng chính đi vào, vẫn còn tượng đức cha Jannin Phước. Chi tiết về quá trình xây dựng Chủng viện Thừa sai Kon Tum, xem http://danlangho.multiply.com

[34] Hội đồng biên soạn giáo trình địa phương học tỉnh Kon Tum (1998), Kon Tum đất nước con người, nxb Đà Nẵng, tr.10-11.

[35] Nam Phong tạp chí, số 191, tháng 12-1933, tr.538.

[36] P. Ban, S. Thiệt (1933), Mở đạo Kontum, Qui Nhơn, tr.188.

[37] P. Dourisboure, sđd, tr.201-205.

[38] P. Ban, S. Thiệt, sđd, tr.234-235.

2 Comments

Filed under Nghiên cứu - Trao đổi