Monthly Archives: July 2013

VÀI SUY NGHĨ VỀ LAO TRONG VÀ HỆ THỐNG NHÀ TÙ CỦA THỰC DÂN PHÁP TẠI KON TUM TRƯỚC NĂM 1945

Lao trong cùng với Lao ngoài tại địa bàn thành phố Kon Tum và căn an trí Đăk Glei là ba bộ phận cấu thành nên hệ thống nhà tù của chính quyền thực dân Pháp tại tỉnh Kon Tum trước năm 1945[1]. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có Lao ngoài và căn an trí Đăk Glei là được xác định vị trí cụ thể, còn Lao trong vẫn chưa. Điều này khiến nhiều bạn đọc hoặc những người không chuyên, trong khi đọc tư liệu, cảm thấy băn khoăn khi các hồi ký (Lê Văn Hiến, Ngô Đức Đệ) đều ghi rõ là có đến hai nhà lao (Lao trong và Lao ngoài) nhưng trên thực tế lại chỉ có một địa điểm hiện là điểm thu hút khách tham quan các nơi khi đến thăm Kon Tum (Lao ngoài).

Sự biến mất hoàn toàn của Lao trong hiện nay là bởi tính chất không bền vững của các loại vật liệu xây dựng được sử dụng lúc bấy giờ. Ngô Đức Đệ viết: “Nhà lao này (tức Lao trong-HTT) không kiên cố, mái lợp ngói, nhưng vách bằng Tocsi (torchi)[2] quét vôi, bốn bề không có tường bao quanh che kín như các nhà lao khác…”[3]. Chính bởi sử dụng các vật liệu không bền như thế mà qua thời gian, những dấu tích của lao trong dần dần bị tiêu hủy, khiến cho việc xác định vị trí của di tích này gặp khó khăn.

Tên gọi Lao trong dùng để phân biệt với Lao ngoài, được xây dựng vào tháng 3-1931 để đón tù chính trị bị đưa đi làm đường ở Đăk Pet về[4], còn trước thời điểm này, tại thành phố Kon Tum hiện nay chỉ có mỗi nhà lao được gọi là Lao trong. Do đó, tên gọi Lao trongLao ngoài chỉ xuất hiện kể từ tháng 3-1931 trở đi và dùng để phân biệt hai nhà lao: Lao ngoài (ngoài bờ sông Đăk Bla) và Lao trong (trong đất liền).

Vả chăng, hai tên gọi Lao trong và Lao ngoài chỉ là do anh em tù chính trị tự đặt và gọi với nhau, còn tên chính thức của chúng thì lần lượt là Prison de KontumPénitencier de Kontum[5]. Đến đây ta thấy được toàn bộ hệ thống các nhà đày do thực dân Pháp xây dựng tại Kon Tum trước năm 1945, bao gồm Prison de Kontum, Pénitencier de Kontum căn an trí Đăk Glei.

Prison de Kontum hay nhà đày hàng tỉnh Kon Tum, chuyên giam giữ thường phạm và những người nhẹ án (dưới 5 năm). Được xây dựng không lâu sau khi tỉnh Kon Tum thành lập (1913), nhà đày hàng tỉnh Kon Tum cũng giống như các nhà tù thường phạm cùng cấp độ khác được thành lập ở mỗi tỉnh dưới thời Pháp thuộc. Miêu tả nhà đày này, Ngô Đức Đệ viết “đó là cái lao nhỏ của tỉnh Kon Tum, thường giam nhốt tù thường phạm địa phương, phần lớn là người dân tộc, thỉnh thoảng mới có một ít người kinh lên làm ăn ở Kon Tum”[6]. Vì là nhà tù thường phạm tại một tỉnh lỵ nhỏ, xã hội đơn sơ như Kon Tum cho nên quy mô của nó nhỏ (324m2) và không kiên cố như đã nói ở trên. Trong cơn lốc cách mạng 1930, vì tình hình đột biến nên nhà đày Kon Tum trở thành nơi giam giữ tù chính trị tại các địa phương khác.

Pénitencier de Kontum hay nhà đày hàng xứ Kon Tum, là nhà đày thuộc cấp cao hơn cấp tỉnh (hàng xứ, tức xứ Trung Kỳ), nơi giam giữ những tù nặng án (hơn 5 năm) hoặc tù nhân lưu đày viễn xứ. Tại Việt Nam lúc bấy giờ, chỉ có một số tỉnh thuộc hai kỳ được lựa chọn làm nơi xây dựng nhà đày hàng xứ, như Bắc kỳ có nhà đày Sơn La, Thái Nguyên; Trung kỳ có nhà đày Lao Bảo, Kon Tum, Buôn Mê Thuột. Đấy là lý do tại sao vào tháng 6-1931, sau khi tù chính trị đi làm đường ở Đăk Pet về thị xã, những người nhẹ án bị đưa đi giam tại Lao trong, còn những người nặng án thì giam tại Lao ngoài[7].

Căn (camp) an trí Đăk Glei, khác với hai nhà đày trên, căn an trí không phải là nhà đày theo đúng nghĩa của nó, mà là nơi giam lỏng những phần tử bị chính quyền thực dân cho là “nguy hiểm”. Địa điểm được lựa chọn làm căn an trí là nơi rừng rậm heo hút, không có người sinh sống nhằm cách ly những phần tử nguy hiểm khỏi cộng đồng. Tuy vậy, cuộc sống tại căn an trí không khổ cực như trong lao, những người bị giữ nơi đây tự túc sinh hoạt, lao động như trong hồi ký của Tố Hữu đã viết.

Như vậy, ta có thể thấy, hệ thống nhà tù của thực dân Pháp xây dựng tại Kon Tum trước năm 1945 bao gồm nhiều lớp: thứ nhất là nhà đày hàng xứ, thấp hơn là nhà đày hàng tỉnh và cuối cùng là căn an trí (chưa kể các nhà tạm giam ở các nơi). Đây là điểm đặc biệt mà không nhiều địa phương khác trên cả nước lúc ấy có. Và như vậy, Lao trong và Lao ngoài không phải là một nhà tù chia làm hai địa điểm, mà là hai loại hình nhà tù thuộc hai cấp bậc khác nhau, có tính chất khác nhau trong hệ thống nhà tù của Pháp ở Đông Dương.

Về quy chế Lao trong, theo chúng tôi, vẫn chưa nghiêm ngặt, giống như tình trạng sơ sài của chính cấu trúc của nó vậy. Cho đến những năm 1930-1940, tình hình an ninh tại Kon Tum hầu như không có gì nghiêm trọng, phong trào cách mạng chưa lan đến vùng này, cho nên nhà cầm quyền vẫn chưa tổ chức cảnh sát[8]. Tháng 6-1930, khi Ngô Đức Đệ bị đưa lên Kon Tum, ông là người tù chính trị duy nhất ở đây. Và mặc dù thuộc diện phải “kiên giam” trong phòng kín, ông vẫn được viên đội Thơ châm chước cho ra rửa mặt hàng ngày 15 phút[9] để rồi từ đó gây dựng quan hệ, giác ngộ cách mạng cho Huỳnh Đăng Thơ.

Dù không kiên cố như nhà đày Buôn Ma Thuột sau này, nhưng ngục Kon Tum vẫn có tiếng là một trong những nhà tù tiêu biểu nhất về tội ác của thực dân Pháp. Nguyên nhân chính gây ra cái chết của đa số tù nhân không phải bởi tường cao hào sâu của nhà tù mà là do chính sách tiêu diệt chính trị phạm của nhà cầm quyền. Ghi nhận của Lê Văn Hiến, số người bị đưa đi làm đường ở Đăk Tao, Đăk Pet hồi tháng 1-1931 là 295, lúc về chỉ còn 80 người[10], tức 215 tù nhân đã bị chính sách tàn bạo của thực dân Pháp giết chết; trong khi đó số người hy sinh qua hai cuộc đấu tranh tháng 12-1931 chỉ là 15 người.

Với vị thế quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng tại Kon Tum trước năm 1945, việc xác định rõ vị trí của Lao trong là cần thiết để góp phần đi đến nhận thức đầy đủ của các thế hệ người đương đại về một giai đoạn lịch sử hào hùng của các thế hệ chiến sĩ cộng sản tại mảnh đất này.

(Viết xong 7-2013)


[1] Tôi vẫn cho rằng tính chất của hệ thống nhà tù do thực dân Pháp xây dựng tại Kon Tum trước năm 1945 (gồm lao trong, lao ngoài và căng an trí Đăk Glei) có nhiều điểm đặc biệt hơn so với các nhà tù khác trên cả nước. Tôi sẽ lần lượt trình bày những ý kiến của mình về tính chất của hệ thống nhà tù tại Kon Tum trong tương quan so sánh với các hệ thống nhà tù khác ở dưới đây.

[2] Đúng ra là “torchis”, tiếng Pháp không có từ “torchi”. Torchis là một loại đất trộn rơm dùng làm vách nhà, một loại vật liệu rất phổ biến ở nước ta trước giờ, kiểu như “nhà tranh vách đất”.

[3] Ngô Đức Đệ (2007), Từ Hà Tĩnh đến nhà đày Kon Tum, Bảo tàng tổng hợp tỉnh Kon Tum xuất bản, tr.61-63.

[4] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.96.

[5] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.65, 96.

[6] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.61.

[7] Lê Văn Hiến (2001), Ngục Kon Tum, Bảo tàng tổng hợp tỉnh Kon Tum xuất bản, tr.60-61.

[8] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.47.

[9] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.32-33.

[10] Lê Văn Hiến, sđd, tr.52.

Leave a comment

Filed under Nghiên cứu - Trao đổi