VỀ ĐẢNG TỊCH CỦA HAI CHI BỘ CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN TẠI KON TUM NĂM 1930

Ths. Hồ Thành Tâm

Đại học Quốc gia Hà Nội

 

Cuối năm 1930, hai chi bộ cộng sản đầu tiên (chi bộ binh và chi bộ đường phố) lần lượt ra đời và hoạt động ở Kon Tum. Mặc dù chỉ tồn tại được một thời gian ngắn rồi bị vỡ trong cuộc đàn áp đẫm máu của chính quyền thực dân trước cuộc nổi dậy của xô viết Nghệ Tĩnh, nhưng sự ra đời của hai chi bộ này đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai[1]: phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân trong tỉnh được cảm hóa và bắt đầu vận động theo khuynh hướng vô sản, đặt nền móng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng về sau[2].

Một đặc điểm thú vị của lịch sử đấu tranh cách mạng theo khuynh hướng vô sản ở Kon Tum là nó được bắt nguồn từ các đảng viên Tân Việt như Trần Đình Thanh (Mộng Bạch), Thái Duy Liễn và đặc biệt là Ngô Đức Đệ. Tuy nhiên, do tính chất mơ hồ của nguồn sử liệu hồi cố được thuật lại trong hồi ký của một số chứng nhân và sự nhầm lẫn trong việc xác định thời điểm diễn ra các sự kiện liên quan mà những tài liệu xuất bản tại địa phương cho đến giờ đều mặc định trình bày phong trào cách mạng của hai tỉnh như là một phong trào cộng sản thuần túy, không thể hiện được sự chuyển hóa về tư tưởng chính trị của các chi bộ, cán bộ liên quan.

Việc khẳng định ngay từ đầu hai chi bộ cộng sản đầu tiên ở Kon Tum là các chi bộ cơ sở của Đảng cộng sản (ĐCS) Việt Nam như thế là chưa chính xác. Sự ra đời của hai chi bộ này cần phải được đặt trong bối cảnh chuyển biến về tư tưởng chính trị của Tân Việt Cách mạng Đảng vào hồi cuối 1929-đầu 1930, một giai đoạn tuy ngắn nhưng có ý nghĩa quan trọng: đánh dấu bước chuyển nhập của các tổ chức cộng sản đương thời vào một tổ chức cách mạng duy nhất: ĐCS Việt Nam. Việc hợp nhất các đảng phái chính trị lúc đó (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) được thực hiện từ trên xuống, bắt đầu từ Tổng bộ, lan xuống dần đến Kỳ bộ, Tỉnh bộ rồi cuối cùng đến các chi bộ cơ sở. Hai chi bộ cộng sản ở Kon Tum cũng nằm trong chu trình đó. Do vậy, để làm rõ đảng tịch của hai chi bộ cộng sản đầu tiên ở Kon Tum cần phải trả lời mấy câu hỏi sau:

  1. Thời điểm Ngô Đức Đệ bị đày lên Kon Tum (tháng 6-1930) thì đảng tịch của ông là gì?
  2. Ngô Đức Đệ kết nạp Huỳnh Đăng Thơ, Huỳnh Liễu, Nguyễn Cừ và thành lập chi bộ binh trên cơ sở tinh thần của tổ chức cộng sản nào?
  3. Sự chuyển hóa chi bộ binh và việc thành lập chi bộ đường phố như là hai chi bộ của ĐCS Việt Nam chính thức bắt đầu kể từ thời điểm nào?

Để trả lời ba câu hỏi trên trước hết chúng ta cần phải lược qua quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị của Tân Việt Cách mạng Đảng cho đến khi thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn và hội nhập vào ĐCS Việt Nam; đồng thời phân tích quá trình hoạt động cách mạng của Ngô Đức Đệ và những người liên quan để làm rõ diễn biến đảng tịch của họ.

1. Quá trình chuyển hóa tư tưởng chính trị từ Tân Việt đến Đông Dương Cộng sản Liên đoàn

Quá trình chuyển hóa tư tưởng chính trị của Tân Việt từ khi thành lập (tháng 7-1928) đến lúc đổi tên thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (tháng 1-1930) là một quá trình khá phong phú sự kiện, đôi khi không liên quan trực tiếp đến bài viết. Nội dung của phần này, do vậy sẽ chỉ tóm lược và điểm lại những nét chính trong quá trình chuyển hóa cả về tư tưởng lẫn tổ chức của Tân Việt thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn xét trong mối liên hệ với các sự kiện sẽ diễn ra về sau ở Kon Tum để làm cơ sở cho các phần khác.

Tân Việt Cách mạng Đảng có tiền thân là Hội Phục Việt, một tổ chức yêu nước tập họp những nhà Nho “quốc sự phạm” sau khi mãn hạn tù từ Côn Đảo về như Lê Văn Huân (Giải Huân), Nguyễn Đình Kiên, Ngô Đức Kế (Nghè Kế), Hoàng Văn Khải (Cử Ngò)… với lớp thanh niên trí thức Tây học mới nổi lúc đó như Trần Đình Thanh (Mộng Bạch), Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Nguyễn Khánh Toàn… hồi tháng 7-1925. Mặc dù thành phần đều là những người giàu lòng yêu nước và mong muốn khôi phục nền độc lập dân tộc nhưng các thành viên vẫn còn nhiều mơ hồ trong đường lối hành động và phương hướng phát triển của Hội: “Người thì chủ trương dùng võ lực. Người lại chủ trương Pháp-Việt đề huề! Hai bên ý kiến còn chưa thỏa thuận hẳn nhau”[3]. Ra đời trong hoàn cảnh Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (VNCMTN) đã thành lập và đẩy mạnh hoạt động khắp đất nước, Hội Phục Việt bị hấp dẫn và lôi cuốn vào con đường cách mạng theo khuynh hướng vô sản của Hội VNCMTN lúc đó. Sau một vài lần vận động hợp nhất bất thành với Hội VNCMTN, tháng 7-1928, Hội Phục Việt (lúc bấy giờ đã đổi tên thành Việt Nam Cách mạng Đồng chí hội) đã họp tại Huế, tuyên bố thành lập Tân Việt Cách mạng Đảng, ra Đảng chương, bầu Đào Duy Anh làm Tổng Bí thư[4], Ngô Đức Diễn làm ủy viên tổ chức và tài chính, Phan Đăng Lưu làm ủy viên tuyên huấn[5].

Về tổ chức, Đảng chương của Tân Việt ghi rõ:

“a) Đặt Tổng bộ coi cả nước.

b) Đặt Kỳ bộ trong mỗi một kỳ để coi công việc toàn kỳ, rồi đến liên tỉnh bộ, tỉnh bộ. Kỳ bộ phụ thuộc với Tổng bộ, v.v…

c) Đặt cả tiểu tổ và đại tổ trong các địa hạt và các cơ quan sản nghiệp”[6].

Về phát triển cơ sở Đảng, Tân Việt chủ trương xây dựng cơ sở Đảng trong khắp cả nước, đặt Tổng bộ là cơ quan cao nhất trông coi mọi việc chung; dưới Tổng bộ là 3 Kỳ bộ (Nhân Kỳ, Trí Kỳ, Dõng Kỳ) lần lượt ở ba miền Bắc, Trung, Nam. Mỗi Kỳ bộ được chia làm nhiều Liên tỉnh, trong đó Trí kỳ được chia làm 4 Liên tỉnh (Lục Hoan, Ngũ Hoa, Tứ Định và Ngũ Trang). Liên tỉnh Tứ Định bao gồm bốn tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Kon Tum, đặt cơ quan Đảng bộ tại Quy Nhơn. Có thể hình dung hệ thống tổ chức Đảng của Tân Việt sơ bộ như sau[7]:

Tong bo TV

Mặc dù chủ trương xây dựng tổ chức cơ sở Đảng tại cả ba kỳ, nhưng thực tế Tân Việt chỉ phát triển mạnh tại miền Trung (Trí Kỳ) vốn là quê hương và là địa bàn hoạt động quen thuộc của các nhân vật trọng yếu trong Đảng[8]. Tại miền Bắc và miền Nam, Tân Việt không cạnh tranh nổi với ảnh hưởng của Hội VNCMTN, thậm chí các Đảng viên Tân Việt dần dần phân hóa trước sức hút của Hội VNCMTN, một bộ phận không nhỏ Tân Việt đã ly khai tổ chức để gia nhập vào Hội VNCMTN.

Phân tích Đảng chương của Tân Việt về mặt nguồn gốc và nội dung cho ta thấy được khuynh hướng cộng sản của tổ chức này.

Người được giao trách nhiệm soạn thảo Đảng chương của Tân Việt là Trần Đình Thanh (Mộng Bạch). Ông vốn là học sinh Quốc học Huế, tốt nghiệp năm 1920 về tham gia giảng dạy tại Quốc học Vinh[9]. Giống như những người bạn đương thời mang trong lòng bầu máu nóng giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của ngoại bang, nhưng dù đã tham gia vào Phục Việt, Mộng Bạch vẫn chưa hình thành cho mình một đường lối chính trị cụ thể. Đóng vai trò trung gian nối liền tư tưởng của Mộng Bạch với chủ nghĩa cộng sản là Lê Duy Điếm và những hoạt động của ông trong việc liên lạc giữa Phục Việt với Hội VNCMTN với tư cách là một hội viên “hai mang” (vừa là hội viên Phục Việt, đồng thời là hội viên Hội VNCMTN).

Lê Duy Điếm được Trần Phú giới thiệu vào Phục Việt ít lâu sau khi Hội này ra đời. Nhiệm vụ của các nhân vật trọng yếu trong Hội được phân công như sau: “Tôn Quang Phiệt khi ấy ra Hà Nội theo học trường Cao đẳng sư phạm, được Hội ủy cho lập một chi hội ở Bắc. Trần Phú và Trần Mộng Bạch, ngoài việc tuyên truyền, Hội còn giao cho việc phải xem xét tình hình Đông Dương. Cụ Lê Huân thì nhận việc liên lạc với các nhà Cách mạng ở Tầu. Ngô Đức Diễn, bổ đi dậy học ở Khánh Hòa, phải tìm cách mở mang thế lực cho Hội ở miền ấy… Điếm nhận xin đứng làm trung gian để liên lạc với các anh em ở Tầu và Xiêm. Lê Huân và Trần Mộng Bạch đều bằng lòng, Điếm lên đường sang Băng Cốc”[10]. Tháng 7-1925 Lê Duy Điếm lên đường sang Xiêm rồi đi Quảng Châu tiếp xúc với Hội VNCMTN và được kết nạp vào Hội này[11]. Tháng 6-1926, Lê Duy Điếm trở về Vinh, sử dụng tư cách là hội viên của Hưng Nam thuyết phục các đồng chí của mình tiếp thu những tư tưởng mà ông đã được đào tạo ở Quảng Châu: “Vốn là người của Hưng Nam nên khi đến Nghệ An, trước hết Lê Duy Điếm tuyên truyền trong tổ chức này và với những bạn bè thân thiết của anh. Sau đó một thời gian, một đoàn gồm 10 người, trong đó có các đồng chí Trần Phú, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Ngọc Ba, Phan Trọng Bình, Phan Trọng Quảng, Nguyễn Văn Lợi, Hoàng Văn Tùng… đã lên đường sang Quảng Châu”[12]. Lê Duy Điếm đã tiếp xúc và vận động Mộng Bạch, đồng thời đưa cho Mộng Bạch xem những tài liệu như Đường kách mệnh, Chương trình, Điều lệ của Hội VNCMTN với mong muốn hợp nhất hai tổ chức này. Việc này đã xảy ra nhiều lần từ tháng 6-1926 đến khi Mộng Bạch bị đưa lên Ban Mê Thuột (tháng 9-1927)[13]. Điều này chắc chắn đã tác động mạnh đến tư tưởng chính trị của Mộng Bạch, chuyển ông từ lập trường chủ nghĩa yêu nước thuần túy sang lập trường cộng sản; từ một Mộng Bạch ngập ngừng, lưỡng lự sang một Mộng Bạch cộng sản dứt khoát[14].

Như vậy, cho đến trước đại hội thành lập Tân Việt thì Mộng Bạch đã giác ngộ chủ nghĩa cộng sản qua vai trò trung gian của Lê Duy Điếm. Cho nên khi được các anh em trong Việt Nam Cách mệnh đồng chí Hội (VNCMĐCH) ủy nhiệm soạn thảo Đảng chương, chuẩn bị cho sự ra đời của Tân Việt thì dĩ nhiên Mộng Bạch đã mang những lý tưởng cộng sản mà ông tiếp thu được vào Đảng chương đó.

Về nội dung, khi so sánh Đảng chương của Tân Việt[15] với Cương lĩnh tối đê hạn độ (tháng 5-1929) của Hội VNCMTN[16], tác giả Đinh Trần Dương nhận xét: “về ngôn ngữ diễn đạt không khác nhau mấy nhưng nội dung thì bên thanh niên trình bày rõ hơn và sát với tư tưởng chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản. Với Trần Mộng Bạch, cách diễn đạt dù có khác đi một số từ, nhưng đường lối chiến lược trong Đảng chương do ông soạn thảo vẫn là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội[17].

Đến cuối năm 1929, tình hình chính trị trở nên sôi sục, phong trào đấu tranh quần chúng lên cao khiến Hội VNCMTN (đang do Lâm Đức Thụ lãnh đạo) lúc này đang có những biểu hiện hữu khuynh, tỏ ra không theo kịp thời cuộc. Điều này gây bất đồng và phân hóa sâu sắc trong nội bộ Hội VNCMTN tại Đại hội lần thứ nhất ở Hương Cảng (tháng 5-1929)[18], khiến các đại biểu Kỳ bộ Thanh niên Bắc kỳ bỏ về, ra Tuyên ngôn thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng (tháng 6-1929)[19]. Tiếp đó, An Nam Cộng sản Đảng cũng ra đời (tháng 11-1929). Cả hai đảng này đều lần lượt ra Tuyên ngôn công kích Tân Việt.

Tuyên ngôn của Đông Dương Cộng sản Đảng có đoạn: “Thanh niên và Tân Việt không phải là cộng sản; nếu có đổi tên, đổi chương trình, đổi điều lệ đi chăng nữa, cũng không gọi là cộng sản được, vì rằng hai đoàn thể ấy đã có tính chất riêng, mà cái tính chất đó không phải là cộng sản, hay là phản cộng sản, thì không khi nào thi hành được các công việc của một Đảng Cộng sản”[20]. An Nam Cộng sản Đảng cũng có nhận xét: “Đảng Tân Việt Cách mạng. Đã được những người trẻ tuổi giác ngộ và những nhà cách mạng già tổ chức vào năm 1924. Đảng này còn tồn tại đến nay vì rằng nó công tác một cách biệt phái và vì nó không biết tổ chức một cách bất hợp pháp. Nhưng trong khoảng thời gian 5 năm đảng này không tổ chức đấu tranh, chính vì thế mà một đảng cách mạng như vậy có thể được coi như không tồn tại”[21].

Tình hình đó tác động mạnh mẽ đến Tân Việt, nhất là khi đề án Khối quốc gia (Bloc National) được đưa ra, gây nên sự phản đối gay gắt trong nội bộ, càng thôi thúc các thành phần cấp tiến Tân Việt tổ chức đảng cộng sản: “Không riêng ở Nam kỳ, mà ở Bắc kỳ cũng như ở Trung kỳ, bản đề án “Khối quốc gia” đều bị kịch liệt phản đối. Ở các đảng bộ Tân Việt khắp ba kỳ, nhất là trong các đảng viên thuộc thành phần công nhân ở các nhà máy Vinh, Bến Thủy, xu hướng thành lập Đảng cộng sản biểu hiện rất sôi nổi, rất rõ rệt”[22].

Do vậy, sau khi các thành viên của Tổng bộ bị bắt tại Huế (tháng 7-1929) thì các thành viên của Kỳ bộ Trí kỳ đã chủ động cử đồng chí Nguyễn Xuân Thanh (Chắt Bảy) đi bắt mối với các Kỳ bộ còn lại để chuẩn bị thành lập tổ chức cộng sản[23]. Các thành viên này họp nhau tại ga Ngọc Lâm (Quảng Bình), nhưng vì sợ lộ nên phải chuyển đến ga Thọ Tường (Hà Tĩnh) gần nhà đồng chí Chắt Bảy vào ngày 29-12-1929, tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn[24]: “Chúng tôi vừa đánh bài vừa trao đổi cho nhau biết tình hình nội bộ. Một nét chung là các đảng bộ đều mong muốn chóng thành lập Đảng cộng sản… Chúng tôi nhất trí với nhau là thành lập xong đảng sẽ cử đại biểu đi bàn việc thống nhất các Đảng theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản. Về tên Đảng, chúng tôi nhất trí lấy tên Đông Dương Cộng sản Liên đoàn”[25].

Ngày 24-2-1930, Ban chấp hành trung ương (BCHTƯ) lâm thời Đảng cộng sản (ĐCS) Việt Nam chấp thuận đơn xin gia nhập của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, các chi bộ của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (Tân Việt cũ) dần được chuyển nhập vào hệ thống cơ sở đảng của ĐCS Việt Nam.

Như vậy, tính đến thời điểm ngày 24-2-1930 thì Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã thôi tồn tại với tư cách là một đảng độc lập, trở thành một bộ phận hợp thành của ĐCS Việt Nam. Các chi bộ của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn dần được chuyển hóa thành chi bộ của ĐCS Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện thông tin liên lạc khó khăn lúc bấy giờ, nên thời gian đầu sau khi hợp nhất, nhiều thành viên Đông Dương Cộng sản Liên đoàn hoặc do ở xa hoặc do bị bắt giam mà không nắm được tình hình, vẫn hoạt động với tư cách là thành viên của tổ chức cũ – Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Và đây là trường hợp mà ta sẽ thấy rất rõ ở Kon Tum.

2. Các hoạt động của Ngô Đức Đệ đến khi bị đày lên Kon Tum (tháng 6-1930)

Ngô Đức Đệ thuộc về dòng họ Ngô Trảo Nha nổi tiếng ở huyện Can Lộc (Hà Tĩnh)[26], được người bác là Ngô Đức Diễn giới thiệu và cụ Giải Huân kết nạp vào Hội Phục Việt tháng 11-1925. Từ đó đến cuối năm 1927, ông hoạt động tại quê nhà[27].

Cuối năm 1927, Ngô Đức Đệ được phân công vào xây dựng Ban Tỉnh ủy lâm thời của Liên tỉnh Tứ Định tại Quy Nhơn. Tại đây, thông qua sự giới thiệu của một người bà con là Ngô Soa, Ngô Đức Đệ đã làm quen với Lê Xuân Trữ ở garage Trần Sanh Thoại. Trong vỏ bọc là một công nhân garage, Ngô Đức Đệ đã tìm hiểu và kết nạp Lê Xuân Trữ vào chi bộ Hưng Nam, rồi thông qua Trữ, kết nạp thêm một số đồng chí khác như Diệm. Họ phân công công việc như sau: “Trữ và Diệm được phân công chuyên trách vận động công nhân. Còn tôi (Ngô Đức Đệ-HTT) chịu trách nhiệm đi sâu vào thanh niên, học sinh công chức trí thức”[28], tuy nhiên, công tác xây dựng cơ sở tiến triển khá chậm.

Mùa hè năm 1928, Ngô Đức Đệ nhận được tin báo cuộc vận động hợp nhất giữa Hưng Nam với Hội VNCMTN thất bại, Hưng Nam đã cải tên thành Tân Việt Cách mạng Đảng: “Sự kiện ấy không gây ấn tượng gì trong cán bộ đảng viên Tân Việt lúc bấy giờ ở Quy Nhơn, cũng như ở các địa phương có cơ sở của Tân Việt”[29]. Cùng lúc này, Tổng bộ Tân Việt tăng cường thêm cho Tứ Định thêm hai đồng chí nữa là Lê Chí và Lê Tiệp (đều là người Hà Tĩnh), ăn ở tại nhà đồng chí Trữ, lấy bãi biển là nơi làm việc. Công tác phát triển đảng viên tập trung vào giới công nhân bốc vác của hãng tàu Messagersives Maritimes Quy Nhơn và giới ngư dân ở đây. Tuy có nhiều khó khăn nhưng công tác xây dựng cơ sở của Tân Việt cũng dần thu được một số kết quả bước đầu. Đến cuối năm 1929, số lượng đảng viên Tân Việt đã là 20 người (một năm sau khi thành lập Liên tỉnh Tứ Định), xây dựng được một số cơ sở ở nhà máy đèn, hãng vận tải đường thủy, ngân khố, trường quốc học…[30]

Song song với việc phát triển cơ sở đảng ở vùng đồng bằng, Ban Liên tỉnh Tứ Định cũng đặt ra nhiệm vụ xây dựng phong trào tại Tây Nguyên, một địa bàn chiến lược quan trọng, tạo thế đứng chân ở cả hai vùng cho Tân Việt: “Phần đất Liên tỉnh Tứ Định gồm 3/4 là rừng núi, độ 1/4 là đồng bằng nhỏ hẹp dọc dải từ Quảng Ngãi đến Phú Yên, hình thế khách quan ấy đặt ra vấn đề phải liên kết chặt chẽ giữa đồng bằng và miền núi, phải làm sao 2 phong trào ở 2 miền này kết thành một để hỗ trợ lẫn nhau, tiến thoái có nhau, làm được như vậy thì phong trào mới mạnh và vững chắc. Ở miền núi, các dân tộc trên dãy Trường Sơn này đã liên tiếp nổi dậy, nay cần phong trào ở đồng bằng chắp nối và gắn liền. Ban Liên tỉnh lúc bấy giờ đã thấy rõ đây là một vấn đề chiến lược đặc biệt quan trọng của cách mạng trong công tác vận động hiện nay”[31].

Tuy nhiên, việc phát triển cơ sở đảng lên vùng địa bàn mới này gây ra nhiều bỡ ngỡ cho Ban Liên tỉnh. Biện pháp được đề ra là đẩy mạnh xây dựng quan hệ Kinh-Thượng ở những vùng giáp ranh với miền núi, gây cơ sở ở đây rồi lấy đó làm bàn đạp cho các bước tiếp theo. Chủ trương là vậy nhưng vẫn chưa có điều kiện thực hiện được: “Trên đây mới chỉ là những suy tính của Ban phụ trách liên tỉnh, đồng thời cũng là ước mơ thầm cháy của bản thân tôi”[32]. Điều mà Ngô Đức Đệ cần lúc bấy giờ là một người đóng vai trò như “tay buôn trầu Nguyễn Nhạc” năm nào chuyên chở ảnh hưởng của Tân Việt lên vùng nậu nguồn này.

Hè năm 1929, nhóm Đào Duy Anh bị bắt ở Huế, Tổng bộ Tân Việt tan rã, nhưng các cấp đảng từ Kỳ bộ trở xuống vẫn còn nguyên vẹn. Trước đề nghị hợp nhất của Đông Dương Cộng sản Đảng, Ban Liên tỉnh Lục Hoan quyết định cử đồng chí Nguyễn Xuân Thanh đi bắt mối liên lạc với Trí Kỳ và Dõng Kỳ để bàn kế hoạch hành động, đưa đến cuộc họp thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn như đã đề cập trên kia.

Như vậy, kể từ thời điểm ngày 1-1-1930 thì Ngô Đức Đệ là một thành viên của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, thậm chí là một trong những người khai sinh ra tổ chức này. Cuộc họp ở bến đò Trai đang tiến hành thì bị lộ, 8 người tham gia đều bị bắt về đồn Linh Cảm. Trên đường áp tải về thị xã Hà Tĩnh ngang qua thị trấn Nghèn (quê của đồng chí Ngô Đức Đệ và Trần Thế Quả), Ngô Đức Đệ đã được ủy nhiệm viết bản thông cáo về việc thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn và bí mật giao cho Trần Hậu Toàn đang bị giam ở đây để gửi cho Tỉnh bộ Tân Việt Hà Tĩnh. Nhờ vậy mà toàn thể Tân Việt đều biết đến quyết định đổi tên tổ chức này[33].

Tiếp tục bị giải về Vinh và bị giam ở đây 4 tháng nhưng không khai thác được tin tức gì[34], Ngô Đức Đệ bị kết án 3 năm tù giam vì là cháu của Ngô Đức Kế và bị đày lên Kon Tum, 7 người còn lại được thả ra nhưng bị quản thúc.

Một điều cần khẳng định rằng, trong 4 tháng bị giam tại nhà lao Vinh, do bị cách ly với nguồn tin mà Ngô Đức Đệ không nắm được tình hình bên ngoài. Tháng 2-1930 hội nghị hợp nhất thành lập ĐCS Việt Nam được triệu tập và đến ngày 24-2, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được chấp nhận chuyển nhập vào ĐCS Việt Nam, chấm dứt sự tồn tại với tư cách là một tổ chức cộng sản độc lập. Ngô Đức Đệ không hề biết điều này, cho nên khi bị đưa lên Kon Tum (tháng 6-1930), ông vẫn hoạt động như là một thành viên của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

3. Ngô Đức Đệ ở nhà lao Kon Tum và sự thành lập hai chi bộ cộng sản đầu tiên tại Kon Tum

Việc bị đày lên Kon Tum có thể nói là “trong cái rủi có cái may” đối với Ngô Đức Đệ, vì đây là cơ hội để ông hiện thực hóa những kế hoạch đã dự định hồi còn ở Ban Liên tỉnh Tứ Định về việc xây dựng ảnh hưởng của Tân Việt trên Tây Nguyên.

Thật ra thì những mầm mống của Tân Việt đã xuất hiện ở Kon Tum trước đó ít lâu. Theo hồi ký của Ngô Đức Đệ, Trần Mộng Bạch đã từng bị đưa lên đây khoảng năm 1924-1925; Thái Duy Liễn trong năm học 1927-1928 cũng lên Kon Tum dạy học (đến mùa hè 1929 thì Liễn được chuyển về Hà Tĩnh), tuy nhiên, ảnh hưởng của Tân Việt gần như dậm chân tại chỗ. Ngô Đức Đệ có nhắc đến bác sĩ Trác là “người có cảm tình cách mạng” và y tá Quán là “một hội viên phản đế” thường giúp đỡ Ngô Đức Đệ mỗi khi ông đến bệnh viện Kon Tum, có thể là dấu vết cho những hoạt động của Mộng Bạch và Thái Duy Liễn[35]. Ngoài ra còn có Lê Hữu Thiềm làm thông phán tại Tòa Sứ Kon Tum (Thiềm là đảng viên Tân Việt được kết nạp ở Thanh Hóa). Điều này cũng phù hợp với lời khai của Hoàng Đức Thi (tháng 2-1928) về 42 tiểu tổ của Việt Nam Cách mạng Đồng chí Hội (tên gọi của tổ chức trước khi đổi tên thành Tân Việt), trong đó có 30 tiểu tổ ở miền Trung mà không kể đến Kon Tum[36], chứng tỏ những hoạt động yếu ớt của Tân Việt ở Kon Tum vào thời điểm đó không đủ để lập chi bộ.

Ngô Đức Đệ là chính trị phạm duy nhất ở nhà lao Kon Tum lúc bấy giờ và bị giam riêng trong một xen-luy chung tường với phòng giấy của ông xếp lao Huỳnh Đăng Thơ[37]. Đối với Ngô Đức Đệ, Huỳnh Đăng Thơ tỏ ra có thiện chí và thường tạo thuận lợi cho việc sinh hoạt của Ngô Đức Đệ. Lý giải về động cơ của Huỳnh Đăng Thơ, có thể cho rằng nó xuất phát từ tình cảm cá nhân, sự khâm phục trước những hành động cách mạng qua trường hợp của Đồng Sĩ Bình[38] bị đưa lên đây hồi đầu năm 1930, chứ bản thân chưa được tuyên truyền giác ngộ cách mạng[39].

Qua tìm hiểu thân thế Huỳnh Đăng Thơ, Ngô Đức Đệ biết ông quê ở An Nhơn (Bình Định). Đây là một tin vui đối với Ngô Đức Đệ vì Bình Định là địa bàn hoạt động quen thuộc của ông trong hai năm 1928-1929: “Nếu rồi đây ông xếp Thơ (tức Phụng) trở nên người cách mạng, đứng vào hàng ngũ chiến đấu, thì ông sẽ trở nên đầu mối quan trọng và vững chắc trong việc phát triển phong trào cách mạng giữa 2 tỉnh, qua nhịp cầu này sẽ tạo nên mối quan hệ công nông binh, quan hệ miền xuôi với miền ngược, nó tạo thành thế liên minh thực sự gắn chặt 2 tỉnh và các tỉnh miền Trung này như hoạch định của Đảng Tân Việt trước đây”[40].

Sau một thời gian tìm hiểu, Ngô Đức Đệ lần lượt giới thiệu Huỳnh Đăng Thơ rồi Huỳnh Liễu, Nguyễn Cừ (do ông Thơ giới thiệu) vào nhóm ái hữu rồi đến tháng 9-1930 kết nạp ba người này vào đảng. “Qua một thời gian ngắn huấn luyện và thử thách, đến tháng 9 năm 1930 tôi lần lượt kết nạp vào Đảng, người đầu tiên là đồng chí Huỳnh Đăng Thơ (Ông xếp lao tốt bụng ấy), thứ đến đồng chí Huỳnh Liễu (cai thơ lại), quê Phú Yên, rồi đến đồng chí Nguyễn Cừ (trong đó có 1 đội và 2 cai). Lúc mới thành lập chi bộ 3 người, thì tôi làm bí thư, một thời gian sau, đồng chí Thơ được cử làm bí thư”[41].

Do hồi ký trình bày không rõ nên người đọc hiểu nhầm rằng kết nạp ba người trên kia “vào Đảng” tức là vào ĐCS Việt Nam, và chi bộ binh là chi bộ của ĐCS Việt Nam. Thực ra, như trên đã nói, khi bị đày lên Kon Tum (tháng 6-1930), Ngô Đức Đệ vẫn nghĩ rằng mình đang hoạt động trong Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, do vậy việc kết nạp và thành lập chi bộ binh này vẫn là cơ sở của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Chi bộ này phát triển khá, đến tháng 3-1931 thì đã có 17 thành viên[42]. Cuối năm 1930, Ban Tỉnh ủy lâm thời được thành lập gồm Lê Hữu Thiềm, Huỳnh Đăng Thơ và Ngô Đức Đệ do Thiềm làm bí thư[43].

Tháng 8-1930, Hà Phú Hương[44] (hay Hà Thế Hạnh, cai Hai) do vụ chống đối chủ đồn điền Bàu Cạn, bị bắt cùng 15 công nhân khác đưa lên Kon Tum[45], bị giam một tháng rồi được thả. Hà Phú Hương tạm trú lại thị xã Kon Tum, thỉnh thoảng ghé về thăm công nhân ở Bàu Cạn[46]. Đồn điền Bàu Cạn là nơi đầu tiên thành lập Công hội đỏ ở Gia Lai, là cơ sở cho việc hình thành nên các nhóm cộng sản sau này.

Cuối năm 1930, Dương Văn Lan[47] rồi Nguyễn Thị Hợi là cán bộ Xứ ủy Trung kỳ từ Quy Nhơn lánh nạn lên Kon Tum do cơ sở ở Quy Nhơn bị vỡ, ở tại nhà của Lê Hữu Thiềm. Ông Lan đóng vai người giúp việc trong gia đình còn bà Hợi giả làm vợ của Thiềm[48]. Ba người này họp lại thành chi bộ đường phố do Thiềm làm bí thư. Ông Lan báo cho Ngô Đức Đệ biết lúc đó ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã hợp nhất lại thành ĐCS Việt Nam (lúc này đã đổi tên thành ĐCS Đông Dương). Xứ ủy Trung kỳ đã được thành lập để “bắt mối với các cấp bộ các tổ chức cộng sản trước để hoàn thành việc thống nhất trong cả nước”[49]. Xứ ủy Trung kỳ đóng tại Vinh, lập một Phân ban ở Đà Nẵng. Như vậy, đến lúc này Ngô Đức Đệ mới biết Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã thôi tồn tại, và đảng tịch của ông lúc này là ĐCS Đông Dương. Việc này xảy ra vào “mùa đông” năm 1930.

Đến đây ta cần dừng lại đôi chút để điểm sơ qua tình hình ở Quy Nhơn để làm rõ thời điểm “mùa đông” năm 1930 mà Ngô Đức Đệ đã viết trong hồi ký khi gặp Dương Văn Lan chính xác rơi vào tháng mấy, để từ đó làm rõ hơn đảng tịch của hai chi bộ kể trên.

Tháng 3-1930, ông Nguyễn Phong Sắc, ủy viên BCH lâm thời ĐCS Việt Nam, Bí thư Phân cục Trung kỳ (sau hội nghị tháng 10 đổi thành Xứ ủy Trung kỳ) cử ông Phan Thái Ất, cán bộ của Xứ ủy tại Đà Nẵng, vào phụ trách việc chuyển đổi tại Quy Nhơn. Ông Hà Thế Hạnh có nhiệm vụ dẫn đường cho ông Ất liên hệ với các nhóm Đông Dương Cộng sản Liên đoàn ở Quy Nhơn[50].

Tiểu tổ Tân Việt tại nhà máy đèn Quy Nhơn lúc này do Lê Xuân Trữ phụ trách đã chuyển sang thành lập chi bộ ĐCS gồm 5 người do Trữ làm bí thư. Cuối tháng 4-1930, Trữ được rút về Phân ban Xứ ủy tại Đà Nẵng, ông Nguyễn Hoàng lên thay. Xứ ủy thành lập một trạm liên lạc và ấn loát tại Quy Nhơn, phụ trách việc liên lạc giữa Bình Định, Phú Yên và Kon Tum với Xứ ủy. Nhiệm vụ này lần lượt được giao cho các ông Phan Thái Ất (tháng 3-5/1930), Dương Văn Lan (tháng 5-11/1930), Trần Hường (tháng 4-7/1931)[51].

Sau vụ rải truyền đơn, cờ đỏ búa liềm ngày 1-5-1930, Nguyễn Hoàng bị bắt, ít lâu sau được thả ra vì không có chứng cứ. Đến tháng 11, ông này bị bắt lần hai do Phân ban Xứ ủy tại Đà Nẵng bị vỡ. Lần này, Nguyễn Hoàng bị kết án tù khổ sai chung thân và đày đi Ban Mê Thuột[52]. Chi bộ tại nhà máy đèn Quy Nhơn bị vỡ, Dương Văn Lan vì lánh nạn nên chạy lên Kon Tum[53] và gặp Ngô Đức Đệ tại đây.

Như vậy, tính từ thời điểm khi Ngô Đức Đệ kết nạp Huỳnh Đăng Thơ, Huỳnh Liễu và Nguyễn Cừ, lập ra chi bộ binh (tháng 9-1930) cho đến khi Dương Văn Lan lánh lên Kon Tum và báo cho Ngô Đức Đệ biết về sự hợp nhất của ba tổ chức cộng sản thành ĐCS Đông Dương (tháng 11-1930), thời gian là 2 tháng. Trong khoảng thời gian này, Ngô Đức Đệ và chi bộ binh về mặt tư tưởng vẫn là thành viên của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Đối với họ, đảng tịch này chỉ chấm dứt và chuyển sang đảng tịch mới thuộc ĐCS Đông Dương kể từ tháng 11-1930. Chi bộ đường phố được thành lập sau thời điểm này, cho nên nó là chi bộ của ĐCS Đông Dương.

Một bằng chứng nữa cho thấy ảnh hưởng của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn vẫn còn thể hiện rất rõ trong Ngô Đức Đệ khi ông thành lập chi bộ binh và Lê Hữu Thiềm khi thành lập chi bộ đường phố. Chi bộ binh (hay chi bộ trại lính) và chi bộ đường phố là hình thức tổ chức chi bộ cấp cơ sở trong hệ thống tổ chức đảng của Tân Việt, vì như ta đã biết, mặc dù đổi tên nhưng về cơ bản, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn vẫn giữ nguyên hệ thống tổ chức đảng đã có từ thời Tân Việt. Những mô tả của Hà Huy Tập sẽ giúp ta thấy rõ hơn điều này[54]:

Image

*

*              *

1. Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị và tổ chức của Phục Việt trong suốt thập niên 1920 là ví dụ điển hình cho tiến trình vận động của đời sống chính trị ở Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX. Khởi đầu từ một nhóm quốc sự phạm vừa mới thoát khỏi nhà tù Côn Lôn và nhóm thanh niên Tây học tuy giàu lòng yêu nước nhưng lại mơ hồ về lý tưởng, họp nhau lại trong một tổ chức mà cương lĩnh chính trị của nó cũng tỏ ra phiêu lưu không kém, chỉ trong vòng 5 năm đã phát triển thành một trong ba tổ chức cộng sản hợp thành của ĐCS Việt Nam, với một mạng lưới đảng viên khá đông và hệ thống các chi bộ rải khắp cả nước, là một quá trình chuyển biến cả về lượng và chất. “Từ Phục Việt đến Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không chỉ là một quá trình thay đổi đảng danh, cải tổ cơ cấu tổ chức mà còn là sự chuyển hóa về tư tưởng chính trị từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản. Những người tiểu tư sản trí thức Hán học và Tân học chiếm phần đông trong tổ chức này đã đến với những người lao động và mang tới cho các tầng lớp nhân dân ánh sáng và niềm tin của cuộc đấu tranh mới, hướng họ đi tới chủ nghĩa cộng sản”[55]. Đây là bằng chứng chứng tỏ rằng, một đảng phái nếu không tuân theo chủ nghĩa nào thì không thể tồn tại vững bền, và đặc biệt hơn nữa trong bối cảnh xã hội Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX, nếu chủ nghĩa đó không phải là chủ nghĩa cộng sản, không đứng trên lập trường của giai cấp vô sản để giải quyết các nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng thì đảng phái đó nhất định phải tiêu vong (như trường hợp của Việt Nam Quốc dân Đảng). Đó là ý nghĩa của khẩu hiệu “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” mà ngay từ khi ra đời, ĐCS Việt Nam đã kiên trì gương cao và là xương sống cho việc xây dựng các chiến lược cách mạng.

2. Việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành ĐCS Việt Nam hồi tháng 2-1930 được thực hiện từ cấp Tổng bộ rồi dần xuống đến các cấp thấp hơn, nhiệm vụ được giao cho các Phân cục của ba kỳ (sau hội nghị tháng 10 đổi làm Xứ ủy) phụ trách. Trong điều kiện thông tin liên lạc khó khăn và sự kiểm soát ngặt nghèo của chính quyền thực dân lúc đó, Xứ ủy phải cử người đi bắt liên lạc với các chi bộ cơ sở của ba tổ chức cộng sản kia để thực hiện việc chuyển đổi. Do vậy, tất không tránh khỏi việc chuyển đổi trước sau giữa các chi bộ, đảng viên mà Ngô Đức Đệ là một trường hợp.

Việc Ngô Đức Đệ vẫn hoạt động với tư cách là thành viên của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn và chi bộ binh đã có hai tháng tồn tại như là một chi bộ của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn cho đến tháng 11-1930 là hệ quả dễ hiểu của điều kiện lúc đó. Và dù là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn hay ĐCS Việt Nam thì Ngô Đức Đệ và chi bộ binh vẫn là những người cộng sản trung trinh nhất, góp phần quan trọng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng tỉnh Kon Tum. Sự chuyển hóa về tổ chức của họ có thể xem là tấm gương thu nhỏ của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn trong quá trình hợp nhất và chuyển hóa thành ĐCS Việt Nam-đảng chính trị chân chính nhất của cách mạng Việt Nam từ sau năm 1930. Nếu có thể phân chia thế hệ, ta có thể tạm chia các thành viên của Tân Việt từ khởi đầu cho đến khi chuyển nhập vào ĐCS Việt Nam thành ba thế hệ như sau: thế hệ thứ nhất gồm các nhà Nho cấp tiến sau khi mãn hạn tù ở Côn Đảo trở về (Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên…) đau đáu vì thù nước nợ nhà mà họp nhau lại trong Phục Việt; thế hệ thứ hai là các thanh niên trí thức Tây học như Trần Đình Thanh, Đào Duy Anh, Ngô Đức Đệ… ôm ấp trong lòng hoài bão muốn giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ ngoại bang và thế hệ thứ ba gồm những quần chúng yêu nước được thế hệ thứ hai cảm hóa như Huỳnh Đăng Thơ, Huỳnh Liễu, Nguyễn Cừ…

3. Ngay sau khi ra đời, ĐCS Đông Dương đã tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh long trời lở đất trong cao trào xô viết Nghệ Tĩnh 1930-1931. Sở dĩ khơi dậy được một lực lượng hùng hậu với khí thế xung thiên như vậy, một phần còn vì ĐCS Đông Dương đã tiếp nhận một lượng sinh lực đảng viên và quần chúng cảm tình cách mạng dồi dào từ ba tổ chức cộng sản hợp thành, đặc biệt là từ những thành quả mà Tân Việt đã dày công gây dựng ngay từ giữa những năm 1920 ở Trung kỳ, tập trung chủ yếu ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Các chi bộ cộng sản chỉ thay đổi đảng danh và đảng tịch của mình, còn về cơ bản vẫn bảo lưu và thực hành chủ nghĩa cộng sản đã được giác ngộ (từ thời còn ở ba tổ chức cộng sản cũ) trong một tổ chức mới, thống nhất. Sự xáo trộn về mặt cơ cấu tổ chức gần như không đáng kể và khối quần chúng cách mạng vẫn bảo lưu được tình cảm đối với các chi bộ. Điều này giải thích tại sao ngay sau khi ra đời, ĐCS Đông Dương đã có thể nhập cuộc và bắt kịp phong trào cách mạng trong cả nước một cách nhanh chóng và nhịp nhàng đến vậy.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. BCH Đảng bộ tỉnh Bình Định (1990), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định, tập I (1930 – 1945), nxb Tổng hợp Bình Định.
  2. BCH Đảng bộ tỉnh Gia Lai (2009), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945 -2005), nxb CTQG, HN.
  3. BCH Đảng bộ thị xã Kon Tum (1998), Lịch sử Đảng bộ thị xã Kon Tum, tập I (1930 – 1975), nxb Đà Nẵng.
  4. BCH Hội LHPN tỉnh Kon Tum (2006), Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Kon Tum (1930 – 2001), nxb CTQG, HN.
  5. Các tổ chức tiền thân của Đảng, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, HN, 1977.
  6. Đào Duy Anh (1955), Lịch sử cách mệnh Việt Nam (từ 1862 đến 1930), nxb Xây dựng, HN.
  7. Đào Duy Anh (2003), Nhớ nghĩ chiều hôm, nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh.
  8. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 1, nxb CTQG, HN.
  9. Đinh Trần Dương (2006), Tân Việt Cách mạng Đảng trong cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, nxb CTQG, HN.
  10.  Hội đồng chỉ đạo biên soạn giáo trình địa phương học tỉnh Kon Tum (1998), Kon Tum đất nước con người, nxb Đà Nẵng.
  11. Nhượng Tống (1945), Tân Việt cách mạng Đảng, Việt Nam thư xã.
  12. Ngô Đức Đệ (1995), Từ Hà Tĩnh đến nhà đày Kon Tum, Sở VHTT&TT, Bảo tàng – Thư viện tỉnh Kon Tum xuất bản.
  13.  Nguyễn Đình Tư, Quá trình diên cách của tỉnh Kon Tum, in trong Tạp chí Xưa và Nay, số 73B, tháng 3/2000.
  14. Nguyễn Khánh Toàn (cb) (2004), Lịch sử Việt Nam, tập II: 1858 – 1945, nxb KHXH, HN.
  15. Nguyễn Thành (cb) (1985), Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, nxb Thông tin Lý luận, HN.
  16.  Phan Văn Bé (2005), Tây Nguyên sử lược, nxb Giáo dục, HN.
  17.  Sở VHTT&TT, Bảo tàng tỉnh Kon Tum (1995), Sống giữa lòng dân.
  18.  Trần Huy Liệu, Văn Tạo (1958), Tài liệu tham khảo lịch sử cận đại Việt Nam, tập V, nxb Văn Sử Địa.
  19.  Trần Hữu Chương, Hồi ký về Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, in trong Tạp chí Cộng sản, tháng 2/1983.
  20. Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập VIII: 1919 – 1930, nxb KHXH, HN.
  21.  Võ Chuẩn, Kon Tum tỉnh chí, in trong Nam Phong tạp chí, các số 191 – 194, 1934.
  22. http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13870&rb=0306
  23. http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_S%C4%A9_B%C3%ACnh
  24. 24.            http://www.baobinhdinh.com.vn/datnuoc-connguoi/2005/10/17298/

[1] Tên gọi Kon Tum chính thức được hành chính hóa vào năm 1898 với việc thành lập một Tòa đại lý hành chính tại Kon Tum do linh mục Vialleton (Cha Truyền) cai quản. Ngày 9-2-1913 tỉnh Kon Tum được chính thức thành lập trên cơ sở địa giới tỉnh Pleiku Der, bao gồm địa giới của cả ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk ngày nay. Đến ngày 24-5-1932, tỉnh Pleiku được thành lập bằng cách tách vùng đất phía Nam Kon Tum. Vì vậy, hoạt động của hai chi bộ cộng sản ở Kon Tum vào năm 1930 có thể được hiểu là hai chi bộ cộng sản đầu tiên của cả Kon Tum và Gia Lai. Hơn thế nữa, những hoạt động của đồng chí Hà Phú Hương (hay Hà Thế Hạnh) trong thời gian bị đày lên Kon Tum rồi trở về đồn điền Bàu Cạn có ảnh hưởng quan trọng đến việc xây dựng các cơ sở cộng sản ở Gia Lai về sau. Xem Võ Chuẩn, Kon Tum tỉnh chí, in trong Nam Phong tạp chí, các số 191-194 năm 1933-1934; Nguyễn Đình Tư, Quá trình diên cách của tỉnh Kon Tum in trong Tạp chí Xưa&Nay, số 73B, tháng 3-2000, tr.12-13.

[2] Một điểm khá đặc biệt của phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Kon Tum nói riêng và Trường Sơn-Tây Nguyên, miền núi các tỉnh Khu V nói chung từ cuối thế kỷ XIX-đầu XX là sự tồn tại song song hai khuynh hướng: một khuynh hướng cộng sản mà những hạt mầm của nó được gieo vào khoảng cuối những năm 1920-đầu những năm 1930 và các cuộc đấu tranh tự phát của đồng bào các dân tộc thiểu số trong khuôn khổ phong trào Nước Xu do Săm Brăm lãnh đạo (1935-1939) (xem Phan Văn Bé (2005), Tây Nguyên sử lược, nxb Giáo dục, tr.157-189). Phải đến đầu những năm 1940, do hoạt động của Việt Minh trên vùng này mà phong trào đấu tranh tự phát của đồng bào các dân tộc ở đây mới chuyển mình, gia nhập vào cuộc đấu tranh chung do những người cộng sản lãnh đạo. Xem hồi ký của A Mét, Theo phong trào Nước Xu đánh Pháp in trong Sở VHTT-TT, Bảo tàng tỉnh Kon Tum (1995), Sống giữa lòng dân, tr.7-24.

[3] Nhượng Tống (1945), Tân Việt Cách mạng Đảng, Việt Nam Thư xã xuất bản, tr.21.

[4] Đào Duy Anh được Mộng Bạch kết nạp vào Việt Nam Cách mạng Đảng tại Đà Nẵng vào mùa hè năm 1926. Xem Đào Duy Anh (2003), Nhớ nghĩ chiều hôm, nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, tr.23.

[5] Đinh Trần Dương (2006), Tân Việt Cách mạng Đảng trong cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, nxb CTQG, HN, tr.66.

[6] Các tổ chức tiền thân của Đảng, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương xuất bản, HN, 1977, tr.157.

[7] Các tổ chức tiền thân của Đảng, sđd, tr.162-164.

[8] Đinh Trần Dương, sđd, tr.67-118.

[9] Đinh Trần Dương, sđd, tr.54.

[10] Nhượng Tống, sđd, tr.22-23.

[11] Lê Duy Điếm là người thứ 9 được kết nạp vào Cộng sản đoàn của Hội VNCMTN.

[12] Nguyễn Thành (cb) (1985), Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng chí Hội, nxb Thông tin lý luận, HN, tr.94; Đào Duy Anh (1955), Lịch sử cách mệnh Việt Nam (từ 1862 đến 1930), nxb Xây dựng, HN, tr.140.

[13] Nhượng Tống, sđd, tr.42, 43, 46; Đinh Trần Dương, sđd, tr.193-194; Trần Huy Liệu, Văn Tạo, sđd, tr.14. Sự thật thì Lê Duy Điếm chưa đưa cho Mộng Bạch xem các tài liệu này ngay từ lần đầu tiên về Vinh (tháng 6-1926) vì ông bị Hội VNCMTN nghi ngờ là gián điệp của Pháp do đã không trình được giấy giới thiệu, mật hiệu của Việt Nam cách mạng Đồng chí Hội khi Lê Duy Điếm sang Quảng Châu hồi tháng 7-1925. Tuy vậy, ông vẫn ở lại Quảng Châu hơn một năm, sinh hoạt và tỏ ra khâm phục đường lối cách mạng của Hội VNCMTN. Tháng 6-1926 Lê Duy Điếm về nước và đưa đoàn thứ hai của Việt Nam cách mạng Đồng chí Hội như đã nói ở trên và tham gia học tập cùng với nhóm này trong Hội VNCMTN.

[14] Kể về giai đoạn Hưng Nam, Nhượng Tống có nhắc đến “Bản dự án” 10 điều của Mộng Bạch, trong đó có điều 2: “Độc lập rồi, nước Việt Nam sẽ kiến thiết một nền chính phủ cộng hòa, và chỉ khi nào chủ nghĩa Cộng sản đã thực hành ở các đại cường quốc rồi, thì mới kiến thiết theo chủ nghĩa ấy” (Nhượng Tống, sđd, tr.31), cho thấy giai đoạn này Mộng Bạch còn chưa dứt khoát tin theo chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, đến giữa năm 1926 khi ông từ Vinh vào Đà Nẵng kết nạp Đào Duy Anh, tư tưởng của ông đã chuyển biến theo con đường cách mạng vô sản: “nước ta là một nước thuộc địa không có quyền độc lập thì cách mạng của chúng ta tất phải bắt đầu bằng bước cách mạng quốc gia (ngày nay thì nói là cách mạng dân tộc). Lực lượng cách mạng chủ yếu của nước ta phải là các giai cấp công nông chứ không phải các giai cấp địa chủ và tư sản được, vì trong hai giai cấp này trừ một phần có lòng yêu nước, một phần lớn còn lại làm tay sai cho chính quyền thực dân đàn áp và bóc lột nhân dân. Đã lấy công nông làm lực lượng cách mạng chủ yếu thì cố nhiên không thể dừng bước ở cách mạng giải phóng dân tộc để cho giai cấp tư sản lũng đoạn chính quyền mà phải bước thêm một bước nữa là làm cách mạng thế giới (tức là cách mạng xã hội chủ nghĩa) như nước Nga, để giành lấy quyền làm chủ cho người lao động thực sự”. (Đào Duy Anh (2003), sđd, tr.32).

[15] Các tổ chức tiền thân của Đảng, sđd, tr.155-175.

[16] Các tổ chức tiền thân của Đảng, sđd, tr.105-125.

[17] Đinh Trần Dương, sđd, tr.218.

[18] Nguyễn Thành (cb), sđd, tr.231-234.

[19] Nguyễn Khánh Toàn (cb) (2004), Lịch sử Việt Nam, tập II: 1858-1945, nxb KHXH,H., tr.309.

[20] ĐCS Việt Nam, sđd, tr.209.

[21] ĐCS Việt Nam, sđd, tr.384.

[22] Trần Hữu Chương, Hồi ký về Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, in trong Tạp chí Cộng sản, số 2-1983, tr.41.

[23] Trần Hữu Chương, sđd, tr.41-42; Ngô Đức Đệ (1995), Từ Hà Tĩnh đến nhà đày Kon Tum, Sở VHTT&TT, TT Bảo tàng-Thư viện Kon Tum xuất bản, tr.22-23.

[24] Tham dự cuộc họp này có Ngô Đức Đệ đại biểu vùng Bình Định, Trần Thế Quả (Thừa Thiên), Nguyễn Xuân Thanh, Nguyễn Tốn (Trung kỳ), Lê Văn Tiềm (Nghệ Tĩnh), Ngô Đình Mận (Bắc kỳ), Hải Triều, Trần Hữu Chương (Nam kỳ).

[25] Trần Hữu Chương, sđd, tr.43.

[26] Về thân thế của Ngô Đức Đệ và tộc phả họ Ngô Trảo Nha xem: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13870&rb=0306

[27] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.7.

[28] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.9-10.

[29] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.12.

[30] BCH Đảng bộ tỉnh Bình Định (1990), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định, tập I (1930-1945), nxb Tổng hợp Bình Định, tr.36.

[31] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.15-16.

[32] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.16.

[33] Trần Hữu Chương, sđd, tr.44; Ngô Đức Đệ, sđd, tr.24.

[34] Các tài liệu của cuộc họp tại bến đò Trai không bị phát hiện và được cơ sở đảm bảo an toàn.

[35] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.37, 44, 100.

[36] Nhượng Tống, sđd, tr.70-93.

[37] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.27.

[39] Về tiểu sử và cuộc đời hoạt động cách mạng của Huỳnh Đăng Thơ, xem http://www.baobinhdinh.com.vn/datnuoc-connguoi/2005/10/17298/

[40] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.29.

[41] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.30.

[42] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.32.

[43] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.40.

[44] Hà Phú Hương vốn là học sinh trường Quốc học Huế, được Võ Liêm Sơn kết nạp vào Học sinh đoàn của Tân Việt. Cuối năm 1928 được Lê Duy Điệp kết nạp vào Tân Việt (xem Đinh Trần Dương, sđd, tr.86-87).

[45] BCH Đảng bộ tỉnh Gia Lai (2009), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945-2005), nxb CTQG, H., tr.90-91.

[46] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.35.

[47] Dương Văn Lan là thành viên của Tỉnh bộ Đông Dương Cộng sản Đảng tại Huế, vào tháng 4-1930 đã cùng với Lê Viết Lượng, đại diện cho Đông Dương Cộng sản Liên đoàn Thừa Thiên, tiến hành hợp nhất hai tổ chức. Xem Đinh Trần Dương, sđd, tr.282-283.

[48] BCH Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Kon Tum (2006), Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Kon Tum (1930-2001), nxb CTQG, HN, tr.27.

[49] Ngô Đức Đệ, sđd, tr.40-41.

[50] BCH Đảng bộ tỉnh Bình Định, sđd, tr.41.

[51] BCH Đảng bộ tỉnh Bình Định, sđd, tr.42.

[52] BCH Đảng bộ tỉnh Bình Định, sđd, tr.43-44.

[53] BCH Đảng bộ tỉnh Bình Định, sđd, tr.56-57.

[54] Hà Huy Tập, Báo cáo về lịch sử Đảng Tân Việt, viết tháng 10-1929 tại Moscow, in trong ĐCS Việt Nam, sđd, tr.433-459. Một điều đáng lưu ý là khi thành lập chi bộ binh, Ngô Đức Đệ đã yêu cầu hai đồng chí của mình học thuộc lòng Bài ca bảo mật của Tân Việt. Xem Ngô Đức Đệ, sđd, tr.37.

[55] Đinh Trần Dương, sđd, tr.242

Advertisements

Leave a comment

Filed under Nghiên cứu - Trao đổi

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s